Tuesday, August 6, 2013

BỘ CÔNG AN ĐÃ TRẢ LỜI QUỐC HỘI VỀ ĐƠN THƯ TỐ CÁO CỦA LÊ ANH HÙNG NHƯ THẾ NÀO

Lê Anh Hùng | 6.8.2013 |



Kính gửi:  

  • Các cơ quan hữu quan ở Việt Nam
  • Các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước

Kính thưa quý vị!
  • Sau 1 năm 1 tháng kể từ khi Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc chuyển đơn thư tố cáo của tôi đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, PTT Hoàng Trung Hải và nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đến tận tay Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ngày 19/6/2012;
  • Sau các cuộc “làm việc” của tôi với Cục A67 – Bộ Công an (ngày 27/6/2012), Cơ quan An ninh Điều tra Công an Hà Nội (ngày 2 & 6/7/2012);
  • Sau rất nhiều cuộc điện thoại thúc giục ĐBQH Dương Trung Quốc cũng như các cuộc trao đổi trực tiếp giữa người tố cáo với ông;
  • Sau hơn 1 năm ĐBQH Dương Trung Quốc “lưu ý” ông Bộ trưởng Công an về vụ việc của tôi;
  • Sau hai lần ĐBQH Dương Trung Quốc gửi công văn cho Chủ tịch Quốc hội về vụ việc của tôi;
  • Sau khi nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế cũng như dư luận trong và ngoài nước lên án mạnh mẽ việc công an bắt tôi một cách trái pháp luật vào trại tâm thần trá hình mang tên “Trung tâm Bảo trợ Xã hội II Hà Nội”, và dưới áp lực của công luận họ đã buộc phải trả tự do cho tôi sau 12 ngày giam cầm trái phép (từ 24/1 ¸ 5/2/2013);
  • Sau khi chính ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nói với ĐBQH Dương Trung Quốc ngày 25/10/2012 rằng “vụ việc phức tạp lắm”;
  • Sau khi vợ tôi tự tay viết Bản Cam Đoan ngày 11/3/2011 khẳng định: (i) chồng tôi (Lê Anh Hùng) là người hoàn toàn bình thường, khi chồng tôi bị bắt ngày 25/12/2009 tôi khai chồng tôi bị tâm thần là do bị đe doạ và ép buộc; (ii) tôi hoàn toàn đồng ý với Thư Tố Cáo của chồng tôi đối với các ông Nguyễn Tấn Dũng, Hoàng Trung Hải, Nông Đức Mạnh; tôi là người nằm trong đường dây ma tuý của PTT Hoàng Trung Hải; tôi là nhân chứng trực tiếp và cung cấp thông tin cho chồng tôi;
  • Sau khi vợ tôi cùng tôi đến gặp ĐBQH Dương Trung Quốc ngày 18/2/2013 như một lời tái khẳng định Bản Cam Đoan nói trên;
  • Sau khi vợ chồng tôi đã nhiều lần kêu cứu về tình trạng bị đe doạ, khủng bố, hành hung, cướp bóc… của mình;
  • Sau khi tôi đã viết hơn 100 bài viết, đăng trên các phương tiện truyền thông uy tín trong và ngoài nước như Bauxite Việt Nam, Đài Á Châu Tự Do, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ… cũng như trên blog cá nhân của mình (chưa kể tôi còn dịch hai cuốn sách học thuật đã công bố và vô số bài báo khác, với tổng cộng hàng nghìn trang dịch; hay thậm chí là hợp tác với một luật sư danh tiếng ở nước ngoài để viết bài);
  • Sau khi tôi đã nhiều lần trả lời phỏng vấn các Đài BBC, VOA, RFA, RFI hay cả tạp chí hàng đầu thế giới TIME;
  • Sau khi tôi đã gửi thư tố cáo qua mạng đến LẦN THỨ 72 tới đầy đủ cơ quan chức năng trong nước,
ngày 18/7/2013, ĐBQH Dương Trung Quốc đã chuyển chuyển cho tôi văn bản mà ông nói là của Bộ Công an trả lời Quốc hội về đơn thư của tôi như sau:


Đây rõ ràng là cách “trả lời” đơn thư tố cáo theo kiểu “cả vú lấp miệng em” và chà đạp lên pháp luật:
  1. Vợ tôi đã viết Bản Cam Đoan (mà tôi kèm trong đơn thư gửi ĐBQH Dương Trung Quốc) phủ nhận lại những lời khai trước đây của vợ tôi khi tôi bị bắt ngày 25.12.2009; ấy vậy nhưng văn bản trả lời của Bộ Công an lại không hề đếm xỉa đến văn bản mấu chốt kia, không hề làm việc với vợ tôi với tư cách là nhân chứng sống của vụ tố cáo, mà lại dẫn lời khai của vợ tôi từ lần tôi bắt trước đây để “trả lời” đơn thư của tôi lần này;
  2. Thời điểm tôi bị bắt ngày 25/12/2009, tôi mới gửi thư tố cáo qua mạng 20 lần, trong khi Bộ Công an lại “trả lời” Quốc hội ở đây là: “Ngày 25/12/2009, Lê Anh Hùng bị… Tại cơ quan điều tra, Lê Anh Hùng khai nhận, đã 70 lần gửi tài liệu có nội dung vu khống…”. Chừng đó đủ cho thấy thái độ “nghiêm túc” của nhà chức trách trong việc “điều tra” một vụ việc mà bây giờ đã tràn lan trên mạng (chỉ riêng Nhật Ký Lê Anh Hùng trên trang Thông Luận đến ngày 6/8/2013 đã có trên 235.000 lượt tải về);
  3. Việc mẹ tôi ký đơn đưa tôi đi chữa bệnh như trong văn bản trả lời của Bộ Công an chính là do sự o ép và đe doạ của công an, đặc biệt họ đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của mẹ tôi để đánh lừa bà, như mẹ tôi đã thể hiện trong lá đơn viết ngày 30/1/2013 (“Con trai tôi không phải là người vô gia cư, lang thang đường phố, cũng không có dấu hiệu tâm thần…” – nguồn: Bauxite Việt Nam.) Ngoài ra, việc công an đến tận nơi tôi đang làm việc để cưỡng bức tôi, một người có công ăn việc làm ổn định, vào Trung tâm Bảo trợ Xã hội II Hà Nội (trại tâm thần trá hình) là một việc làm chà đạp lên pháp luật, chà đạp lên quyền con người, đã bị dư luận trong và ngoài nước lên án.

Việc ĐBQH Dương Trung Quốc chuyển cho tôi cái “công văn trả lời” bị cắt đầu cắt đuôi, không biết do cơ quan nào phát hành, không biết ai là người ký… cũng đủ cho thấy sự SỢ HÃI và ĐỚN HÈN đến mức khó có thể chấp nhận của cả một hệ thống chính trị trước một “bệnh nhân tâm thần”, như lời vu cáo hết sức trơ trẽn của họ.
Qua cách hành xử của nhà chức trách, quý vị đã có thể nhận ra bản chất của vụ việc. SỰ THẬT là vũ khí duy nhất của chúng tôi, và những kẻ bị tố cáo cũng như những người có trách nhiệm đã tìm mọi cách để vô hiệu hoá vụ tố cáo của chúng tôi, đẩy chúng tôi vào đường cùng. Sớm muộn gì lịch sử cũng sẽ vạch mặt những kẻ mà tôi tố cáo. Chính họ đã và đang tàn phá đất nước, đã và đang dâng cả giang sơn gấm vóc cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.
Đây rõ ràng không còn là chuyện riêng của gia đình chúng tôi. Vì vậy, tôi KHẨN THIẾT kêu gọi dư luận trong và ngoài nước quan tâm và lên tiếng về vụ việc. Chỉ có áp lực của dư luận mới khiến nhà chức trách phải giải quyết vụ việc theo một cách nào đó, dù chỉ là xử lý nội bộ. Nhân đây, tôi cũng rất mong dư luận quan tâm đến hoàn cảnh sống đang ngày đêm bị đe doạ, rình rập, khủng bố và triệt đường sống của chúng tôi, đặc biệt là vợ tôi (nhân chứng duy nhất còn sống sót trong băng đảng ma tuý của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải), người đang hàng ngày bị những cơn đau đầu hành hạ, hậu quả của những lần bị tay chân của những kẻ mà chúng tôi tố cáo tiêm thuốc độc để huỷ hoại trí nhớ.
Quảng Trị, ngày 6/8/2013

Lê Anh Hùng
Mobile: 01243210177; Blog: leanhhungblog.blogspot.com; Email: lehunglpa@gmail.com; Skype: lehunglpa; Facebook: facebook.com/lehunglpa

Lê Thị Phương Anh
Mobile: 01248241919; www.facebook.com/phuonganh.lethi.16

Bức thư này đã được gửi ngày 6.8.2013 đến các địa chỉ sau:
Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam <webmaster@qh.gov.vn>; Cổng Thông tin Điện tử Chính phủ <thucongdan@chinhphu.vn>; Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam    <mttqvn@mattran.org.vn>; Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao <htqt@vks.gov.vn>; Toà án Nhân dân Tối cao <tatc@toaan.gov.vn>; Hộp thư Tố giác Tội phạm - Bộ Công An    <togiactoipham@canhsat.vn>; Đài Truyền Hình Việt Nam  <thoisuvtv@vtv.vn>; Đài Tiếng Nói Việt Nam <toasoan@vovnews.vn>; Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam    <dangcongsan@cpv.org.vn>; Báo Nhân Dân <nhandandientu@nhandan.org.vn>; Báo Quân Đội Nhân Dân <dientubqd@gmail.com>; Báo Thanh Tra <thanhtradientu@thanhtra.com.vn>; Tạp chí Tuyên Giáo – Ban Tuyên giáo TW <tctg@tuyengiao.vn>; Ban Thi đua Khen thưởng Trung ương    <thiduakt@thiduakhenthuongvn.org.vn>; Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng <xttm@ckt.gov.vn>; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam  <tttt@hoilhpn.org.vn>; Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam <thongtin@vusta.vn>; Hội Nông Dân Việt Nam <tonghophnd@gmail.com>; Hội Nhà báo Việt Nam <hnbvietnam@gmail.com>; Hội Nhà văn Việt Nam <vanvn.net@gmail.com>; Hội Sinh viên Việt Nam <hoisinhvien@hsvvn.vn>; Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam <vnf-unesco@fpt.vn>; Thành Đoàn Hà Nội  <hanoituoitre@gmail.com>; Ban Thư ký - Thông Tấn Xã Việt Nam    <btk@vnanet.vn>; Báo Bảo Vệ Pháp Luật - Viện KSND Tối cao <baovephapluat_vksndtc@yahoo.com>; Báo Công Lý - Toà án ND Tối cao    <baocongly@fpt.vn>; Báo Công An Nhân Dân  <candonline@gmail.com>; Báo An Ninh Thủ Đô <antdonline@anninhthudo.vn>; Báo Biên Phòng    <banthukybaobp@gmail.com>; Báo Đại Đoàn Kết <toasoan@baodaidoanket.com.vn>; Báo Cựu Chiến Binh Việt Nam    <ccbvietnamdientu@gmail.com>; Báo Hà Nội Mới <webmaster@hanoimoi.com.vn>; Báo Sài Gòn Giải Phóng <sggponline@sggp.org.vn>; Báo Tuổi Trẻ    <toasoan@tuoitre.com.vn>; Báo Tiền Phong <online@tienphong.vn>; Công Báo <info@congbao.vn>; Tạp chí Quản Lý Nhà Nước    <tcquanlynn@yahoo.com.vn>; Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng QH <nclp@qh.gov.vn>; Tạp chí Truyền Hình - Đài THVN    <tapchith@vtv.org.vn>; Tạp chí Nhà Văn <tapchinhavanhnv@gmail.com>; Tạp chí Quốc phòng Toàn dân <quocphongtoandan@viettel.vn>; Tạp chí Thế Giới Phụ Nữ    <admin@thegioiphunu-pnvn.com.vn>; Thời báo Kinh Tế Việt Nam <vneconomy.vn@gmail.com>; Thời báo Kinh Tế Sài Gòn  <sgt@thesaigontimes.vn>; Báo Công Thương <congthuongonline@gmail.com>; Báo Đầu Tư <baodautu.vn@gmail.com>; Báo Diễn Đàn Doanh Nghiệp <baodientu@dddn.com.vn>; Báo Đất Việt <datviet108@gmail.com>; Báo điện tử Vietnamnet    <tuanvietnam@vietnamnet.vn>; Báo điện tử VnExpress    <webmaster@VnExpress.net>; Báo điện tử Dân Trí <info@dantri.com.vn>; Báo Giao Thông Vận Tải <baogiaothong@fpt.vn>; Báo Giáo Dục & Thời Đại    <gdtddientu@gmail.com>; Báo Phụ Nữ Tp HCM <toasoan@baophunu.org.vn>; Báo Du Lịch <baodulichdientu@gmail.com>; Báo Khoa Học & Đời Sống <tkts@bee.net.vn>; Báo Kinh Tế Nông Thôn <hungktnt@gmail.com>; Báo Lao Động <toasoan@laodong.com.vn>; Báo Người Lao Động <online@nld.com.vn>; Báo Nông Nghiệp Việt Nam <baonnvn@hn.vnn.vn>; Báo Nông Thôn Ngày Nay <baodanviet@gmail.com>; Báo Pháp Luật Tp HCM  <baophapluat@phapluattp.vn>; Báo Sài Gòn Tiếp Thị <sgtt@sgtt.com.vn>; Báo Thể Thao & Văn Hoá <ttvhonline@thethaovanhoa.vn>; Báo Thế Giới & Việt Nam    <webmaster@tgvn.com.vn>; Báo Tin Tức <toasoantintuc@gmail.com>; Báo Văn Hoá    <baovanhoa@fpt.vn>; Báo Tài nguyên & Môi trường <baotainguyenmoitruong@gmail.com>; Báo Vietnamnews <vnnews@vnagency.com.vn>; Đài VOA <VOAbanlambao@gmail.com>; Báo Việt ngữ - Đài BBC    <vietnamese@bbc.co.uk>; Đài Á Châu Tự Do <vietweb@rfa.org>; Nhóm nữ nghị sỹ Việt Nam <nnsvn@qh.gov.vn>; Trang mạng Bauxite Vietnam <bauxitevn@gmail.com>; Blog Nguyễn Tường Thuỵ <tuongthuy52@gmail.com>; blog Nguyễn Xuân Diện <lamkhanghn@yahoo.com.vn>; Blog Phạm Viết Đào <Thuykhue40@gmail.com>; Thông Luận <info@ethongluan.org>; Blog Anh Ba Sàm <basamvietnam@gmail.com>; VANGANH.INFO <vanganh.contact@gmail.com>; Dân Làm Báo <lienlacdanlambao@gmail.com>; Radio Chân Trời Mới <lienlac@radiochantroimoi.com>; Chương trình Từ Cánh Đồng Mây <theheviet@verizon.net>; Đàn Chim Việt <bbt.danchimviet@gmail.com>; Quan Làm Báo <vualambao@gmail.com>; Báo Người Việt <news@nguoi-viet.com>; ĐBQH - nhà sử học Dương Trung Quốc <quocxuanay@yahoo.com>; Đại biểu QH Trần Hoàng Ngân <ngannh@ueh.edu.vn>; Đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa <nghia.truong@ykvn-law.com>; GS Chu Hảo <haochu2008@gmail.com>; PGS.TS Hồ Uy Liêm <houyliem@vusta.vn>; TS Lê Đăng Doanh <ledangdoanh@gmail.com>; Ông Vũ Quốc Tuấn <tuanvuquoc@gmail.com>; nhà báo Trần Đăng Tuấn <trandangtuanvfc@yahoo.com>; Ông Nguyễn Trung <nguyentrungvt@gmail.com>, Ông Bùi Đức Lại <buiduclai@yahoo.com.vn>; Bà Phạm Chi Lan <phamchilan@gmail.com>; VDK LAW OFFICE <vdklawyer@rogers.com>; Nhà báo Tống Văn Công <vcongtong@gmail.com>, Thiếu tướng Lê Văn Cương <tuanla295@gmail.com>, GS Tương Lai <tnglai@gmail.com>; nhà văn Phạm Đình Trọng <phamdinhtrong2006@yahoo.com.vn>; GS Đặng Vũ Minh <gsdangvuminh@yahoo.com.vn>

Người Việt Nam có thực sự hạnh phúc đến thế hay không?

Năm 2012, Vit Nam được xếp hạng thứ hai về Chỉ số Hành tinh Hạnh phúc (HPI) của tổ chức New Economics Foundation. Theo HPI, đất nước duy nhất hạnh phúc hơn Việt NamCosta Rica. Chỉ số HPI xếp hạng 151 quốc gia trên khắp thế giới theo tiêu chí bao nhiêu cuộc đời trường thọ, hạnh phúc và bền vững mà một quốc gia tạo ra cho người dân của nó trên một đơn vị đầu ra môi trường – tức là nhấn mạnh nhiều hơn vào môi trường so với sự hài lòng về đời sống cá nhân. Những quốc gia dẫn đầu về chỉ số dường như phần lớn là những nước có thu nhập trung bình, ở khu vực nhiệt đới, và sở hữu nhiều bãi biễn. Đây quả là vài lý do tốt để vui mừng, song điều này lại dẫn tôi đi đến băn khoăn: liệu người Việt Nam có thực sự hạnh phúc đến thế hay không?
Năm 2010, một cuộc thăm dò dư luận do AP-GfK tiến hành cho thấy 81% người dân Việt Nam cảm thấy đất nước họ đang đi đúng hướng, với 87% kỳ vọng nền kinh tế sẽ mạnh hơn trong 5 năm. Lúc bấy giờ người Việt Namđang ngày càng giàu lên, kết nối nhiều hơn và năng động hơn, tất cả diễn ra một cách nhanh chóng. Tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh và hàng tiêu dùng xuất hiện ngày càng nhiều trên thị trường. Đất nước này có tất cả sự phấn khích của một con hổ Châu Á, một dân số trẻ và năng động.
Tuy nhiên, một dân tộc hạnh phúc sống hoà đồng với môi trường lại không phải là cảm nghĩ đầu tiên đến với những người đang nghiên cứu các bản phúc trình quốc tế gần đây về Việt Nam. Vị thế của Việt Nam như một điển hình về phát triển đã bắt đầu chuệch choạc. Báo chí quốc tế thì tràn ngập những câu chuyện tiêu cực trong 18 tháng qua, bất kể đó là tình trạng phá sản hàng loạt, tham nhũng, ô nhiễm hay suy thoái: trong hai năm 2011-2012, khoảng 100.000 doanh nghiệp Việt Nam bị phá sản (chiếm một nửa số DN phá sản trong 20 năm qua). Năm ngoái, Việt Nambị xếp vào số 10 quốc gia ô nhiễm không khí nhất thế giới. Năm nay, người ta lại được chứng kiến sự gia tăng đàn áp nhằm vào các blogger và những người bất đồng chính kiến. Việc tìm ra một báo cáo tích cực và, có lẽ, thiếu tính phê phán mà năm năm trước từng đầy rẫy nay đã trở nên khó khăn.
Tình trạng lo lắng tại các thành thị chắc chắn là đang gia tăng ở Việt Nam. Năm 2012, tâm trạng của người tiêu dùng là bi quan. Niềm tin của người tiêu dùng đã sụt giảm nhanh chóng từ những mức kỷ lúc trước năm 2008. Chỉ 2/3 cư dân thành thị được khảo sát cho rằng công việc của họ là an toàn và mọi người đang tiết kiệm với mức độ lớn hơn rất nhiều so với năm 2011.
Năm 2010, một cuộc thăm dò dư luận do AP-GfK tiến hành cho
thấy 81% người dân cảm thấy VN đang đi đúng hướng, với 87%
kỳ vọng nền kinh tế sẽ mạnh hơn trong 5 năm. 
Photo/Karl Grobl
Đa số dân Việt Nam (khoảng 70%) vẫn đang sống ở nông thôn, nhu cầu và mối quan tâm của họ thường bị xem nhẹ, bởi người ta hướng sự chú ý đến những đổi thay nhanh chóng đang diễn ra ở các đô thị. TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn (Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn - IPSARD), một viện nghiên cứu trực thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT, đang tìm cách sử dụng kết quả của cuộc Điều tra Tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam (VARRHS) để đánh giá về xu hướng của nông thôn Việt Nam. Phần phân tích về hạnh phúc chỉ mới diễn ra và với sự dữ liệu hạn chế – cuộc điều tra chỉ phỏng vấn các chủ hộ gia đình – song với với câu trả lời từ hơn 2.700 hộ gia đình nông thôn từ 12 tỉnh thành ở Việt Nam, người ta đã thu được một số kết quả lý thú.
Kết quả cho thấy 52% người Việt Nam rất hoặc khá hài lòng với cuộc sống, trong khi 48% lại không nói như vậy. 7% khẳng định họ rất hài lòng và 6% nói họ không hài lòng chút nào. Những người khá giả thì dễ nói là họ hạnh phúc hơn người nghèo. Người kết hôn hạnh phúc hơn người độc thân, và người già hạnh phúc hơn người trẻ. Quả là dễ dự đoán. Những tỷ lệ này phù hợp với những nhóm hài lòng trên thế giới, và số nói rằng họ hạnh phúc có thể thậm chí còn cao hơn so với kết quả trong các cuộc điều tra (không tương đồng) ở nhiều nước phương Tây. Tuy nhiên, nhân tố đóng góp lớn nhất vào sự gia tăng của số rất hoặc khá hạnh phúc trong các hộ gia đình nông thôn Việt Nam lại là tư cách đảng viên Đảng CS.
Công trình của IPSARD xem ra phù hợp với kết quả điều tra của UNDP và Gallup. Chỉ số Hiệu quả chính quyền và hành chính công cấp tỉnh (Provincial Government and Public Administration Performance Index - PGPAPI) năm 2012 của UNDP cho thấy 78% những người trả lời đánh giá tình hình kinh tế của họ từ mức bình thường đến mức rất tốt (giảm nhẹ từ mức 83% năm 2011). Chỉ có 7% tin rằng tình hình kinh tế của họ sẽ xấu đi trong năm năm tới.
Tương tự, năm 2012, Chỉ số Toàn cầu về Hy vọng và Hạnh phúc (Global Barometer of Hope and Happiness) của Gallup đặt câu hỏi: “So với năm nay thì liệu năm tới đây sẽ là một năm kinh tế thịnh vượng, kinh tế khó khăn, hay không thay đổi?” Ở Việt Nam, 37% nói là thịnh vượng, 30% nói khó khăn, và 32% nói tình hình vẫn thế. Kết quả này làm nên tỷ lệ ròng 7% hy vọng vào nền kinh tế. Tỷ lệ này phù hợp với mức bình quân trên toàn thế giới. Song đây vẫn là một môi trường khá ảm đạm. Bồ Đào Nha, đất nước tiêu cực nhất, đạt chỉ số -85%. Điều quan trọng có lẽ là kết quả ở Việt Nam cách xa mức trung bình của khu vực Đông Á là +14%.
Vậy thì chúng ta có thể rút ra kết luận gì từ những kết quả điều tra này? Dữ liệu, như vẫn thường xuyên xẩy ra ở Việt Nam, là thiếu đầy đủ và độ tin cậy thì dễ thay đổi. Kết quả các cuộc điều tra không thể so sánh trực tiếp với nhau; sự thịnh vượng kinh tế không nhất thiết đồng nhất với hạnh phúc cá nhân. Nhìn chung, sự hài lòng về cuộc sống xem ra dẻo dai hơn ở Việt Namso với mức độ mà các bản báo cáo vẫn thường gợi lên. Trí nhớ ngắn ngủi có thể khiến người ta bỏ qua những tiến bộ lớn về chất lượng cuộc sống của phần lớn người dân trong những năm gần đây. Dù vậy, người Việt Nam dường như vẫn kém hạnh phúc và lạc quan hơn so với trước kia.
William Taylor (wtaylor@asiafound.org) là quyền đại diện thường trú của The Asia Foundation ở Việt Nam. Quan điểm và ý kiến trình bày ở đây là của tác giả và không phải của The AsiaFoundation.

Từ Anh tới Việt Nam, kiểm duyệt mạng đang gia tăng trên toàn cầu

Washington Post | 6.8.2013 |
Lê Thiên Hà dịch



Một nghị định mới của Việt Nam sẽ khiến cho việc người dân đăng tin tức hay “thông tin tổng hợp” trên mạng là phạm pháp, một sự hạn chế mà thoạt nghe có vẻ như không thể thực thi vì ngớ ngẩn nhưng hoá ra lại dễ thực hiện hơn – và chưa tới mức cực đoan – so với mức độ mà bạn có thể chờ đợi. Theo phân tích của tổ chức theo dõi nhân quyền Freedom House, Việt Nam không đơn độc trong chiến dịch đàn áp của mình, ngay cả khi các phương pháp mà họ áp dụng là đặc biệt hà khắc. Kiểm duyệt mạng đang gia tăng trên khắp thế giới, và những quốc gia độc đảng, hà khắc như Việt Nam không phải là những nước duy nhất luật định về những gì mà người dân có thể đăng tải trên mạng.
Hãy xem xét những dòng tiêu đề mà bạn từng xem chỉ trong tháng qua. Ở Anh, một công cụ sàng lọc mà người ta đề xuất sẽ tự động chặn các trangkhiêu dâm và, theo các tổ chức bảo vệ tự do Internet, các nội dung không mong muốn khác. Ở Jordan, các trang Web mới không thể hoạt động nếu thiếu giấy phép đặc biệt từ chính phủ.
Theo Sanja Kelly, giám đốc dự án “Freedom on the Net”của Freedom House (dự án sẽ công bố báo cáo 2013 của nó vào tháng Chín tới), thì “điều mà chúng tôi nhận thấy qua nghiên cứu của mình là khi số người truy cập Internet tăng lên, các chính phủ ngày càng dễ áp đặt các biện pháp kiểm soát một số nội dung nhất định. Một trong những phát hiện của chúng tôi trong năm nay sẽ là kiểm duyệt mạng đang gia tăng: Nhiều trang mạng đang bị chặn hơn so với trước kia, và ngày càng nhiều nước thông qua các quy định pháp luật nhằm hạn chế những nội dung nhất định trên mạng”.

Tình hình tự do Internet năm 2012. Đánh giá tình hình năm 2013 được cho là sẽ còn tồi tệ hơn. (Freedom House)
Ngay cả trong bối cảnh đó, Nghị định 72 của Việt Nam, một nghị định cấm đoán tin tức và thông tin trên Internet một cách tràn lan, xem ra vẫn giống với việc xác lập một đáy mới. Theo hãng tin AFP, văn bản pháp luật mới sẽ cấm sử dụng blog và các mạng xã hội vào bất kỳ mục đích nào ngoài việc “trao đổi thông tin cá nhân”. Thậm chí việc trích dẫn từ các tờ báo hay trang web của nhà nước cũng sẽ bị cấm.
Trong khi một số nhà bình luận nhìn nhận động thái này là nhằm bảo vệ các phương tiện truyền thông truyền thống (nên hiểu là do nhà nước quản lý) thì thực tế lại có thể còn kém vị tha hơn. Việt Nam không phải là Bắc Triều Tiên – nói gì thì nói, Việt Nam nằm trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và hơn 1/3 dân số của nó sử dụng Internet – song đây vẫn là một trong những quốc gia cộng sản độc đảng còn sót lại trên thế giới, và là một trong những chính thể kiểm soát truyền thông hà khắc nhất. Các nhà báo được Đảng CS công nhận, theo Freedom House, và phần lớn hoạt động xuất bản thuộc sở hữu và nằm dưới sự giám sát của đảng hoặc quân đội. Cả hai đều phải đối mặt với hình phạt nặng nề nếu in ấn những tài liệu phê phán nhà nước hay khuyến khích cải cách.
Trong những năm gần đây, hình thức tố cáo ngược như thế đã lan sang thế giới mạng: Theo tổ chức Phóng viên Không biên giới(RWB), 35 blogger và những người chỉ trích trên mạng khác đã bị bỏ tù ở Việt Nam trong năm 2013, nghĩa là khoảng 20% số blogger bị cầm tù trên thế giới trong năm nay là người Việt Nam. Một số người, chẳng hạn như Nguyễn Tiến Trung, một blogger từng được đào tạo ở Pháp và bị kết án 7 năm tù giam, đã khích động cải cách dân chủ. Số khác thì chỉ đơn thuần là viết về các chủ đề nhạy cảm chính trị, chẳng hạn như quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc.
Văn bản pháp luật mới này rõ ràng là tin xấu dành cho những blogger này và những người như họ. Tuy nhiên, cho đến khi chúng ta biết được chính xác chính phủ sẽ thực thi chính sách mới như thế nào, ở đây khả dĩ có một hy vọng: Không giống như các công cụ sàng lọc nội dung Internet, vốn hoạt động ở cấp độ nhà cung cấp dịch vụ, và việc cấp phép cho các trang mạng, việc soi tìm một thứ gì đó mơ hồ như “thông tin phi cá nhân” là một cơn ác mộng về mặt hậu cầu và có thể sẽ đòi hỏi các nhà kiểm duyệt bằng xương bằng thịt phải lùng sục kỹ lưỡng các mạng xã hội. Ít nhất, lọt lưới là điều nghe khả dĩ ở đây.
Song điều có thể gây lo ngại nhất, đối với các nhà vận động cho tự do Internet, về văn bản pháp luật mới của Việt Nam lại không phải ở mức độ hà khắc của nó mà là ở chỗ, theo một số cách nào đó nó thực sự tạo ra ít ảnh hưởng hơn so với các chế độ kiểm duyệt đã hiện hữu từ trước của các nước khác. Ở những nước như Trung Quốc, IranEthiopia, các chính phủ đã trấn áp những phần mềm hỗ trợ mọi người vượt qua các công cụ sàng lọc nội dung của chính phủ, Sanja Kelly của Freedom House cho biết. Thông qua việc triển khai những công cụ tinh vi hơn của riêng mình, các chính phủ có khả năng là cơ bản buộc những người sử dụng Internet phải ở trong những vùng Internet mà chính phủ có thể kiểm soát trực tiếp, điều mà CEO của Google Eric Schmidt và những người khác từng cảnh báo là có thể thực sự phá vỡ Internet. Kiểu kiểm duyệt như thế có thể cho thấy là gây ra nhiều bất ổn hơn, trong dài hạn, so với những thứ luật lệ như của Việt Nam.

Khi hai cựu thù bắt tay nhau

Xã luận | The Straits Times |
Lê Thiên Hà dịch




Những ngày này, Hoa Kỳ tìm thấy nhiều điểm tương đồng với Việt Nam tới mức tuần qua họ đã dành cho Chủ tịch Trương Tấn Sang một sự chào đón nồng ấm đặc biệt. Không có gì đáng ngạc nhiên khi Tổng thống Barack Obama cần tìm cách mở rộng mối quan hệ an ninh và kinh tế với một nước cựu thù. Cứ như lời của cựu thủ tướng Anh Lord Palmerston mà nói thì một quốc gia không có “kẻ thù vĩnh viễn” mà chỉ có “lợi ích vĩnh viễn”.

Để theo đuổi “lợi ích vĩnh viễn” của quốc gia, năm ngoái Obama đã quyết định triển khai chính sách xoay trục sang Châu Á trong một động thái động thái rõ ràng là nhằm kiềm chế một Trung Quốc đang tỏ ra quyết đoán. Việt Nam hoàn toàn phù hợp với vị thế một quốc gia đối trọng trong chiến lược này.
Những yếu tố địa chiến lược đó lý giải nhiều khía cạnh trong công cuộc hợp tác khẩn trương này: Cam kết ký kết hiệp định thương mại Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và một mối quan hệ “đối tác toàn diện” nhằm thắt chặt mối quan hệ an ninh – một nhu cầu mà Việt Nam cũng tỏ ra sốt sắng trong bối cảnh tranh chấp với Trung Quốc về quần đảo Trường Sa.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và TT Obama tại Nhà Trắng ngày 25.7.2013
Lợi ích kinh tế chung sẽ đưa hai nước xích lại gần nhau. Hoa Kỳ đã trở thành thị trường lớn nhất cho các sản phẩm chế tạo của Việt Nam, vốn tìm thấy ít nhu cầu ở Trung Quốc, ngay giữa lúc hàng hoá Trung Quốc rẻ tiền tràn ngập thị trường Việt Nam, gây ra mức thâm hụt 16,4 tỷ USD vào năm ngoái. Trung Quốc chủ yếu nhập khẩu dầu, cao su và than đá từ Việt Nam, quốc gia đang lo sợ là nó đang ngày càng lệ thuộc quá mức vào Trung Quốc về về hoạt động mua bán và đầu tư như thế. Ngược lại, Việt Namđạt mức thặng dư mậu dịch 15,6 tỷ USD với Mỹ vào năm ngoái.
Tuy nhiên, Việt Namvà Hoa Kỳ cần nhận ra giới hạn trong chiến lược đối trọng của họ. Hà Nội có thể không bao giờ hoàn toàn chắc chắn về vai trò mà Hoa Kỳ sẽ thực thi một khi bối cảnh địa chính trị thay đổi phù hợp với sự thay đổi của tình hình trong khu vực. Chẳng hạn, bất chấp giá trị đối trọng với Trung Quốc và Liên Xô, Việt Nam lại từng nhìn thấy nỗ lực chiến tranh của nó bị đe doạ khi hai cường quốc cộng sản khục khặc với nhau.
Ký ức chiến tranh dần biến mất, song Hoa Kỳ lại không thể đánh mất sự quan tâm đến một lợi ích khác trong số những lợi ích vĩnh viễn của họ, cho dù nó được theo đuổi bất cập đến đâu – nhân quyền. Một trở ngại thực sự đặt ra ở đây là thành tích nghèo nàn của Việt Nam– bỏ tù các nhà hoạt động chính trị đối lập, các blogger bất đồng chính kiến và các lãnh đạo tôn giáo; vấn đề lại càng xấu đi bởi nạn tham nhũng hoành hành.
Obama đã khéo léo nêu vấn đề này lên một cách công khai trong chuyến công du của người đứng đầu nhà nước Việt Nam: “Tất cả chúng ta phải tôn trọng những chủ đề như tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do hội họp. Và chúng tôi đã có cuộc trao đổi rất thẳng thắn về cả những tiến bộ mà Việt Namđang đạt được cũng như những thách thức còn tồn tại.” Tuy nhiên, mối quan ngại sâu sắc về sự đối xử tệ hại dành cho giới công nhân và những người bất đồng chính kiến ở Việt Namrõ ràng vẫn khiến nhiều nhóm ở Mỹ bận tâm và không thể bị bỏ qua. Một hiệp định TPP thiếu những cam kết mạnh mẽ về những chủ đề phi thương mại như thế có thể sẽ gặp phải khó khăn để được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn.

Monday, August 5, 2013

Nhà tài phiệt với chiến dịch 10 năm để đưa Big Mac đến Việt Nam

Nguyen Phuong Linh & Martin Petty
Reuters | 4.8.2013 | Lê Anh Hùng dịch



(Tp Hồ Chí Minh) – Nhà tài phiệt Nguyễn Bảo Hoàng từng lau sàn nhà, làm những công việc rẻ mạt, và thậm chí từng lau chùi toilet... trong một chiến dịch 10 năm ròng rã hòng thuyết phục McDonald's Corp (MCD.N) cho phép ông đưa Big Mac (loại humberger nổi tiếng của McDonald’s - ND) và Happy Meal (sản phẩm của McDonald’s dành cho trẻ em - ND) tới đất nước Việt Nam cộng sản.
McDonald’s đang đặt bước chân muộn mằn vào thị trường Việt Nam, nơi mà Yum Brands (YUM.N) đã có hàng chục cửa hiệu Pizza Hut và KFC, còn Burger King Worldwide Inc (BKW.N) thì đã có 15 nhà hàng. Thậm chí cả Starbucks Corp (SBUX.O) cũng đã ra mắt tại Tp Hồ Chí Minh hồi tháng Hai và khai trương chi nhánh thứ hai tuần vừa rồi.
Chủ nghĩa tư bản đã bén rễ trên một đất nước mà nhiều người Mỹ vẫn đánh đồng với một cuộc chiến tai tiếng hơn là một nền kinh tế đang cất cánh. Giới siêu giàu đã trở thành những cái tên mà nhà nhà đều biết đến ở Việt Nam, đất nước đã trình làng nhà tỷ phú dollar đầu tiên vào tháng Sáu trên trang bìa phiên bản ra mắt của tạp chí Forbes ở đây.
Nguyễn Bảo Hoàng, một người Mỹ gốc Việt từng mở cửa hiệu Pizza Hut ở Việt Nam sáu năm trước, nói rằng ông vẫn sống và thở bằng McDonald’s. Ông từng nghiên cứu mô hình kinh doanh của nó như một phần trong văn bằng thạc sỹ của mình, và theo đuổi cơ hội nhượng quyền thương hiệu ở Việt Namsuốt 10 năm – ngay cả khi ông làm việc cho đối thủ Yum. Khi ông thăm thành phố quê nhà Chicago, ông thường gặp các giám đốc điều hành của McDonald’s tại trụ sở công ty ở ngoại ô Oak Brook, tiểu bang Illinois.
Chuỗi cửa hiệu Những Cánh Cung Vàng (Golden Arches – biểu tượng chữ M màu vàng cách điệu nổi tiếng của McDonald’s) sẽ ra mắt ở Tp Hồ Chí Minh vào đầu năm 2014 và sau đó là ở thủ đô Hà Nội, song quá trình mở rộng sẽ diễn ra “từng bước một”, Bảo Hoàng nói. Ông từng làm việc cho McDonald’s ở Mỹ thời niên thiếu và quay lại vào năm nay tại một cửa hiệu ở Singapore.

Nguyễn Bảo Hoàng trong cuộc phỏng vấn ngày
19.7.2013 tại văn phòng làm việc của ông ở Tp HCM.
REUTERS
Việc lựa chọn thời điểm của Bảo Hoàng xem ra đáng đặt dấu hỏi. Trong khi các đối thủ đã xác lập được vị trí vững chắc thì McDonald’s lại khai trương ngay giữa lúc nền kinh tếđang lao đao và nhu cầu của người tiêu dùng đang đi xuống. Dù vậy, người đàn ông bốn mươi tuổi này vẫn tin chắc là thị trường Việt Nam đã chín muồi cho một vụ nhượng quyền thương hiệu ở đây.
Một gia đình đi qua cửa hiệu Louis Vuitton
ở khu mua sắm sang trọng Tràng Tiền
Plaza, Hà Nội, ngày 19.7.2013.
REUTERS/Kham
“Sự xuất hiện của McDonald’s ở đây cho thấy Việt Namlà một thương vụ lớn với nhiều người. Điều này có nghĩa là ở Việt Nam đang diễn ra nhiều chuyện”, Bảo Hoàng nói với Reuters trong một cuộc phỏng vấn tại văn phòng làm việc thời thượng của ông ở toà nhà mang tính biểu tượng nhất Việt Nam. Ông là con rể của Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam từ năm 2006 đến nay; song ông nhấn mạnh đấy không phải là lý do khiến ông giành được thương vụ nhượng quyền thương hiệu với McDonald’s.
Nữ phát ngôn viên Becca Hary của McDonald’s xác nhận rằng Bảo Hoàng từng bàn thảo về cơ hội nhượng quyền thương hiệu trong nhiều năm, và cho biết ông lọt vào danh sách ngắn từ một nhóm rất đông.
“Cuộc hôn nhân của ông không loại ông ra khỏi việc tham gia vào một quy trình tuyển chọn đầy cạnh tranh để lựa chọn đối tác của chúng tôi ở Việt Nam”, bà nói, đồng thời cho biết thêm là việc nghiên cứu một thị trường mới của McDonald’s có thể kéo dài nhiều năm và công ty cũng đã nhận thấy “những cơ hội lớn phía trước” ở Việt Nam.
SỰ XA XỈ TRONG TẦM TAY
Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 4,9% và 5% trong quý I và quý II của năm 2013; đây là tốc độ ảm đạm trong một thị trường ASEAN đang phát triển, và với đà này thì Việt Nam đang hướng tới mức tăng trưởng hàng năm chậm nhất trong 14 năm.
Dữ liệu chính thức cho thấy, các ngân hàng ngập trong nợ đang nỗ lực cho vay và ít nhất 120.000 doanh nghiệp đã phải đóng cửa kể từ năm 2011. Tốc độ tăng trưởng tổng mức bán lẻ là 11,8% trong quý đầu tiên, mức thấp nhất kể từ năm 2005, và mức tăng hàng năm 15,7% của năm 2012 chỉ bằng một nửa so với tốc độ của hai năm trước đó.
Trong các nền kinh tế phát triển, McDonald’s có xu hướng ăn nên làm ra khi nền kinh tế suy yếu vì những người tiêu dùng chật vật sẽ tìm đến những thực phẩm rẻ tiền hơn. Tuy nhiên, ở các nền kinh tế đang phát triển, thức ăn nhanh của phương Tây lại là sự khác biệt và thường được bán với mức giá nằm ngoài khả năng của quảng đại quần chúng.
Ở Việt Nam, một miếng gà KFC có mức giá tương đương với một tô phở, bữa ăn quen thuộc của Việt Nam, là 32.000VNĐ (1,51USD), và một suất KFC thì hơn gấp đôi chừng ấy. Bánh humburger có mức giá lên đến 85.000VNĐ.
McDonald’s chưa khai trương nên chưa có thông tin gì về giá bán, nhưng Bảo Hoàng nói ông không muốn định vị nó như một thứ nhãn hiệu xa xỉ.
Mặc dù nền kinh tế từng một thời được ví là “con hổ” này đang đánh mất sức mạnh của nó song Bảo Hoàng vẫn tỏ ra kiên định rằng McDonald’s chưa lỡ chuyến tàu.
“McDonald’s không nhìn vào tình hình hiện nay, họ nhìn vào tiềm năng dài hạn của thị trường”, ông nói. “Đây là một thị trường lớn, một phần lớn là nhờ vào dân số.”
Các thương hiệu lớn khác cũng đã hình dung ra điều đó. Hai phần ba trong tổng số 90 triệu dân Việt Nam ở dưới độ tuổi 30, các đô thị đang phát triển nhanh, và 34% dân số ở đây là những người sử dụng internet mà các nhà tiếp thị phương Tây dễ dàng tiếp cận.
Vấn đề không chỉ là về quảng đại quần chúng. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người hàng năm chỉ là 1.400USD – bằng 1/4 của Thái Lan và 1/7 của Malaysia, theo số liệu của World Bank – song Việt Nam lại có một tầng lớp trung lưu đô thị khá giả với ý thức cao về đẳng cấp và thích vung tiền vào các thương hiệu lớn, những chiếc điện thoại thông minh đắt giá và những chiếc Vespa thượng thặng.
“Công việc làm ăn của gia đình tôi đang diễn ra tốt, thế nên tôi không nhận thấy sự suy thoái nào cả”, Đoàn Ngọc Như (33 tuổi) cho biết chỉ mấy phút sau khi trả 200 triệu VNĐ (9.400USD) cho một cái túi Hermes (HRMS.PA) tại một khu mua sắm thời thượng ở Tp Hồ Chí Minh.
Khoác trên mình chiếc áo do một nhà thiết kế thời trang cắt may kỹ lưỡng, Như nói thêm: “Tôi chọn chiếc túi nó vì nó đắt. Điều đó có nghĩa là chất lượng; nó giúp tôi xây dựng một hình ảnh và tôi rất quan tâm đến hình ảnh của mình.”
Gucci (PRTP.PA) và Louis Vuitton (LVMH.PA) đã sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của những cư dân thành thị rủng rỉnh. Starbucks, chuỗi cửa hiệu café lớn nhất thế giới, đã nhận thấy “cơ hội rất lớn” ở Việt Nam, một phát ngôn viên của công ty cho hay.
Như Starbucks đã nhận ra, ở một đất nước sản xuất ra 15% sản lượng cà phê của thế giới và có số lượng quán cà phê nhiều khác thường, vấn đề là người ta uống ở đâu, chứ không phải là uống cái gì.
“Nó khiến tôi có cảm giác phương Tây hơn, năng động hơn”, sinh viên Trần Thiện Thành (20 tuổi) cho biết khi ngồi trên chiếc ghế sofa tại một cửa hiệu Starbucks nêm đầy khách hàng đang lướt web trên những iPhone và iPad ở thành phố mà trước đây gọi là Sài Gòn.
‘NHỮNG CHIẾC Ô TÔ SIÊU SANG’
Nhà sản xuất ô tô hạng sang Rolls Royce đã có kế hoạch mở showroom đầu tiên của nó ở Việt Nam vào năm tới, nhằm vào lớp doanh nhân không bị ảnh hưởng từ cuộc suy thoái và giàu lên trong giai đoạn bùng nổ 2003-2008, khi nền kinh tế tăng trưởng ở mức bình quân 7,8%/năm.
“Khách hàng điển hình của Rolls Royce sở hữu ít nhất 30 triệu USD và 5 xe siêu sang”, Đoàn Minh, giám đốc Đại lý Rolls Royce Motor Cars ở Hà Nội, cho biết. “Những nhân tố cơ bản là vững chắc, đảm bảo cho tăng trưởng dài hạn cũng như cho các doanh nghiệp Việt Nam tạo ra của cải vật chất.”
Dù vậy, vẫn còn rất nhiều chuỗi thương hiệu và nhãn hiệu chưa có mặt ở đây, và nhiều công ty đã bị xoá sổ. Hạ tầng thì thường là bất cập, các chuỗi cung ứng thì hạn chế, thuế nhập khẩu thì cao. Tham nhũng, chủ nghĩa thân hữu (cronyism), chủ nghĩa bảo hộ (protectionism) và tình trạng quan liêu thái quá là những vấn đề cố hữu, thể hiện qua việc Việt Nam được xếp hạng 99 trên tổng số 185 quốc gia năm ngoái trong khảo sát của Ngân hàng Thế giới về mức độ kinh doanh thuận lợi.
Một rào cản khác nữa là đòi hỏi theo đó các chuỗi thương hiệu nước ngoài phải được thành lập dưới hình thức nhượng quyền kinh doanh tại Việt Nam.
Fred Burke, luật sư chuyên về luật doanh nghiệp, một đối tác điều hành tại chi nhánh hãng luật Baker & McKenzie ở Việt Nam, nhận xét: “Tình hình đang thay đổi; Việt Nam có tiềm năng tốt, song trở ngại lớn nhất là việc thiếu các đối tác nhượng quyền thương hiệu đủ điều kiện và năng lực, với các kỹ năng và kiến thức kinh doanh.”
(1USD = 21.160VNĐ)
(Bài viết có sự cộng tác của Martinne Geller ở New York; biên tập: Emily Kaiser)

Hoa Kỳ, Việt Nam và Campuchia: Sự trở lại của chính trị thực dụng

Hai cựu thù nhận được sự đối xử khác nhau từ chính quyền Obama

The Economist | 3.8.2013 |
Lê Thiên Hà dịch



Ngày 25.7 vừa qua, Tổng thống Barack Obama đã chào đón người đồng cấp Việt Nam, Trương Tấn Sang, tới thăm Nhà Trắng. Đây mới chỉ là chuyến thăm thứ hai của một người đứng đầu nhà nước Việt Nam kể từ khi hai quốc gia cựu thù này bình thường hoá quan hệ năm 1995. Cuộc gặp đã đưa mối quan hệ giữa hai nước lên một tầm cao mới, đó là “quan hệ đối tác toàn diện”.
Hãy so sánh thứ tình cảm tràn trề đó với cách đối xử mà Hoa Kỳ vẫn dành cho nhà lãnh đạo của Campuchia, một đất nước cũng từng phải hứng chịu những cơn mưa bom khủng khiếp của Mỹ trong hai thập niên 1960 và 1970.
Khi ông Obama gặp Thủ tướng Campuchia Hunsen trong lần duy nhất ở Phnom Penh năm ngoái, những người phát ngôn của Mỹ đã tự chuốc lấy phiền toái khi nhấn mạnh rằng cuộc gặp đã diễn ra trong bầu không khí “căng thẳng”, bởi ông Obama lên lớp nặng nề ông Hun Sen về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Campuchia. Đường lối cứng rắn của Tổng thống Hoa Kỳ nhận được sự hậu thuẫn từ một cuộc vận động hành lang ồn ào của các chính khách Hoa Kỳ, những người đòi chính phủ cắt giảm viện trợ nếu các cuộc bầu cử ở Campuchia là không “đáng tin”. Một số người thậm chí còn muốn các tổ chức quốc tế đang tài trợ cho công cuộc tái thiết của Campuchia, chẳng hạn như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), đưa ra lời đe doạ tương tự.

Liệu các nhà lãnh đạo Việt Namcó xứng đáng được ôm ấp trong khi các nhà lãnh đạo Campuchia lại bị giữ khoảng cách như vậy hay không? Về tiêu chí dân chủ và nhân quyền thì có lẽ là không.
Cuộc bầu cử mới đây ở Campuchia không phải là hoàn hảo, song phần lớn các nhà quan sát đều cho rằng nó đã diễn ra công khai và cạnh tranh hơn so với hai cuộc bầu cử trước (kết quả bầu cử đã chứng thực cho điều đó). Đảng CS cầm quyền ở Việt Nam lại không hề bận tâm đến chuyện bầu cử. Họ cũng không chấp nhận bất kỳ hình thức cạnh tranh chính trị nào. Đàn áp diễn ra khắp nơi. Theo tổ chức vận động cho nhân quyền Human Rights Watch, số vụ kết án các blogger và những người chỉ trích khác trong nửa đầu năm 2013 về những tội danh như “tuyên truyền chống phá nhà nước” đã vượt quá số vụ kết án tương tự của cả năm ngoái. Phong cách chuyên quyền của ông Hun Sen rõ ràng là lỗ mãng, song dường như nó đã giảm bớt đôi chút.
Ở Washington, một số ít nhà lập pháp Hoa Kỳ, với sự hậu thuẫn của cộng đồng người Mỹ gốc Việt lớn tiếng, đã than phiền về sự đối xử nhẹ nhàng với giới lãnh đạo hiện tại của Việt Nam. Song không còn ai khác tỏ ra là đang lắng nghe.
Lý do đằng sau sự đối xử phân biệt nằm ở thực tế là chính quyền Obama đã chọn Việt Nam làm một đồng minh trong chính sách an ninh “xoay trục” sang Châu Á của Mỹ. Đây là một quyền lực khu vực đáng kể, và quan trọng hơn, Việt Nam tỏ ra dũng mãnh một cách đáng khâm phục khi đối mặt với đối thủ mới của Hoa Kỳ là Trung Quốc trong các vụ tranh chấp biển đảo. Hoa Kỳ cũng muốn Việt Nam tham gia liên minh thương mại tự do mới của họ, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), và dường như sẵn sàng bỏ qua nhiều thứ vì những mục tiêu địa chiến lược đó. Ngược lại, Campuchia là đồng minh chính của Trung Quốc trong khu vực và sẽ không sớm tham gia TPP. Chính trị thực dụng, từng một thời thịnh hành trong những năm 1970, nay đã trở lại.