Wednesday, July 26, 2017

Ai đứng sau ‘kẻ huỷ diệt thiên nhiên’ Sun Group?

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo



Vài năm trở lại đây, Sun Group đã trở thành một hiện tượng đình đám trong lĩnh vực du lịch nghỉ dưỡng, giải trí và bất động sản cao cấp. Các dự án của tập đoàn này đều rất hoành tráng, với quy mô từ hàng nghìn tỷ VNĐ trở lên, trong đó có những dự án được trao giải thưởng quốc tế và lập nên những kỷ lục thế giới. Sun Group đã trở thành một thương hiệu được tầng lớp thượng lưu, giới nhà giàu mới nổi ở Việt Nam ưa chuộng.
Tuy nhiên, bên cạnh danh tiếng nổi bật đó lại là những tai tiếng thậm chí còn nổi bật hơn, đặc biệt là những thảm hoạ môi trường tại hầu hết những nơi mà Sun Group đặt chân đến, biến tập đoạn này thành kẻ thù trong mắt quảng đại quần chúng. Một diễn đàn mạng xã hội đã nhận xét về các dự án của Sun Group trong thời gian qua như sau: “Sun Group đi tới đâu sơn thần thổ địa ở đó hiện ra quỳ lạy rối rít”, bởi họ “phá hết lấy đâu ra chỗ cho thần ở, huống chi con người.”

Chưa hết, ông chủ Sun Group, tỷ phú Lê Viết Lam, mới đây còn bị Uỷ ban Cứu trợ Thuyền nhân (BPSOS) đưa vào danh sách đề nghị chế tài theo Luật Magnitsky toàn cầu của Hoa Kỳ, vì bị cáo buộc là “động lực chính đằng sau vụ cướp đất của Giáo Xứ Cồn Dầu để rồi chia lô và bán cho các nhà đầu tư với giá 200 - 300 lần cao hơn mức bồi thường cho khổ chủ”.
Thế nhưng, bất chấp tất cả, Sun Group vẫn ngày càng lớn mạnh. Danh sách dự án khủng do tập đoàn này đầu tư vẫn không ngừng dài ra và trải rộng trên cả nước (chỉ riêng tại Quảng Ninh là 13 dự án đang và sẽ triển khai, còn tại Đà Nẵng là 8 dự án đã thực hiện cùng nhiều dự án sắp sửa triển khai khác). Và nó luôn nhận được sự ưu ái đặc biệt của lãnh đạo từ trung ương đến địa phương. Trong nền kinh tế “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam, không khó để nhận ra đằng sau những dự án siêu khủng của Sun Group là một (số) thế lực chính trị siêu khủng.
Nếu mọi chuyện chỉ dừng lại ở đó thì có lẽ cũng chưa có gì đáng bàn lắm, bởi Sun Group không phải là tập đoàn tư bản thân hữu duy nhất ở Việt Nam. Điều đáng quan ngại ở đây là, Sun Group luôn dễ dàng nhận được giấy phép thực hiện dự án tại những địa điểm không chỉ nhạy cảm về môi trường, mà cả về an ninh quốc phòng: Bà Nà - Núi Chúa (quần thể du lịch Bà Nà Hills ở Đà Nẵng); bán đảo Sơn Trà (1 dự án đã đi vào hoạt động: InterContinental Danang Sun Peninsula Resort; 4 dự án đang triển khai: Khu du lịch nghỉ dưỡng và biệt thự sinh thái cao cấp Ghềnh Đa - Mũi Nghê;  Khu dịch vụ du lịch ven biển và biệt thự sinh thái cao cấp Hồ Xanh; Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp Tây Nam Suối Đá; Khu du lịch sinh thái biển Bãi Bắc – Cty CP Địa Cầu, một công ty con của Sun Group); Vân Đồn (dự án sân bay quốc tế Vân Đồn), v.v.
Trong bài “Người dân Đà Nẵng mất Bà Nà” trên RFA ngày 11/3/2015, các tác giả đã nhận định Bà Nà - Núi Chúa là điểm trọng yếu về chiến lược quân sự, có vị thế chiến lược quan trọng không kém Hải Vân Quan. Cuối bài viết, các tác giả đã đặt câu hỏi: “Nếu một ngày nào đó, Sun Group bắt tay làm ăn với một doanh nhân Trung Quốc và doanh nhân này mua trên 50% cổ phần của Sun Group, nghiễm nhiên trở thành ông chủ mới của Sun Group thì chuyện gì sẽ xảy ra? Nhà cầm quyền Đà Nẵng có nghĩ đến chuyện này hay chưa? Vì hiện tại, người Trung Quốc đã có mặt khắp bờ biển Đà Nẵng, họ đã xây nhà, xây biệt thự và xây sòng bạc ở đây nhiều vô kể. Liệu nhân dân còn nói được gì khi Sun Group vào tay Trung Quốc?!”
Một khi câu hỏi này được đặt ra thì vấn đề đã trở nên hệ trọng, bởi nó liên quan đến an nguy của đất nước. Việc Sun Group bắt tay với Trung Quốc là một khả năng hoàn toàn thực tế, bởi chỉ cách đây vài tháng, dư luận đã phải lên tiếng phản đối gay gắt trước thông tin Viện Thiết kế và Quy hoạch Hàng Châu (Trung Quốc) được mời tham gia nghiên cứu và lập quy hoạch 1/5.000 cho đô thị hai bên Sông Hồng. Dự án này do Sun Group, Vingroup và Geleximco góp tiền thực hiện. Ngoài ra, một số công trình của Sun Group còn thể hiện đậm nét “bản sắc Tàu”, điển hình như các ngôi chùa ở Fansipan (một diễn đàn mạng đã gọi ngôi chùa trên đỉnh Fansipan là “ngôi chùa Tàu quái thai”), hay dự án Công viên Đại Dương ở Hạ Long.

Các toà nhà dưới “Vòng xoay Mặt Trời” (Hạ Long) trông giống như trên Vạn Lý Trường Thành (Trung Quốc). Ảnh: Lê Anh Hùng

Các toà nhà mang đậm kiến trúc Tàu ở Công viên Đại Dương, Hạ Long. Ảnh: Lê Anh Hùng
Trung Quốc có rất nhiều cách thức hợp pháp để trở thành chủ nhân các dự án của Sun Group: mua cổ phần của Sun Group hoặc các dự án của nó; mua cổ phiếu Sun Group và các dự án của nó khi chúng được niêm yết trên thị trường chứng khoán; tài trợ cho các dự án của Sun Group rồi chuyển vốn vay thành cổ phần; lập ra các công ty ma ở nước ngoài (như họ đã từng làm ở Mỹ, ở Canada, hay ở Singapore, v.v.) rồi hợp tác với Sun Group để thực hiện dự án, v.v.
Viễn cảnh u ám đó không còn quá xa với chúng ta. Từ đầu năm 2017, cổ phiếu của Công ty CP Cáp treo Bà Nà, chủ đầu tư của quần thể du lịch sinh thái Bà Nà - Suối Mơ trên diện tích 817ha tại Đà Nẵng, đã được giao dịch trên thị trường. Nếu không được kiểm soát và ngăn chặn, việc các ông chủ Tàu ngồi chễm chệ trên “nóc nhà Đà Nẵng” xem ra chỉ còn là vấn đề thời gian.
Tương tự, bằng cách thâu tóm cổ phiếu hoặc những phương thức khó kiểm soát như đã trình bày ở trên, trong tương lai không xa, các nhà đầu tư “made in China” sẽ là chủ nhân thực sự của các dự án do Sun Group đầu tư ở Sơn Trà, cho phép Bắc Kinh kiểm soát hoàn toàn bán đảo đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng này.
Rõ ràng, bất kể thế lực chính trị nào đang chống lưng cho Sun Group, công luận cũng có lý do chính đáng để yêu cầu nhà chức trách Việt Nam rà soát và đặt các dự án của ông chủ bí hiểm Lê Viết Lam vào vòng kiểm soát đặc biệt. Với một nền chính trị vốn luôn bị bàn tay lông lá của Bắc Kinh thao túng và lũng đoạn như Việt Nam, yêu cầu trên lại càng chính đáng và cấp thiết.[i]
_______
Ghi chú:
[i] Một số dự án của Sun Group còn nằm ở những khu vực mang ý nghĩa đặc biệt về phong thuỷ, tâm linh. Dãy Fansipan nằm trên đại địa mạch chạy từ đỉnh Everest cao nhất thế giới của dãy Himalaya, qua cao nguyên Tây Tạng và Ấn Độ, Nepal, Bhutan, Myanmar… qua cao nguyên Vân Nam, rồi đến đỉnh Fansipan, qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, qua đỉnh Ba Vì… rồi trải xuống đồng bằng Bắc Bộ để đi xuống vịnh Hạ Long và cuối cùng kết thúc ở vịnh Mindanao sâu nhất thế giới. Việc Sun Group cho xây dựng một quần thể chùa Tàu trên dãy núi được mệnh danh là “nóc nhà Đông Dương” này không khỏi khiến dư luận lo ngại. Tương tự như thế là dự án Công viên Văn hóa Kim Quy tại vùng linh địa Cổ Loa.

Wednesday, July 19, 2017

Cờ vàng, cờ đỏ và ứng xử của chúng ta

Lê Anh Hùng| VOA| 18.7.2017 



Vừa rồi, trên không gian Facebook đã xẩy ra chuyện tranh cãi giữa một số người Việt quốc nội và hải ngoại cùng chung chí hướng vì một Việt Nam tự do - dân chủ. Mấu chốt của cuộc tranh cãi là sự khác biệt về quan điểm của mỗi bên đối với cờ vàng và cờ đỏ, để rồi từ đó dẫn đến những chuyện đôi co khác.
Cờ đỏ, hay cờ đỏ sao vàng, là lá cờ màu đỏ với ngôi sao vàng 5 cánh được nhà cầm quyền cộng sản chọn là quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ năm 1945 đến 1976 và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976 đến nay. Còn cờ vàng, hay cờ vàng ba sọc đỏ, là quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam (một chính thể nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp) từ năm 1948 đến 1955 và Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến 1975.

Cuộc tranh cãi diễn ra khá gay gắt và gây chia rẽ khá nghiêm trọng giữa những người đấu tranh trong và ngoài nước, một tập hợp vốn dĩ còn ít ỏi và thiếu gắn kết. Hậu quả đáng tiếc này lẽ ra đã không xẩy ra nếu mỗi bên đều hiểu và tôn trọng quan điểm, tình cảm của phía bên kia trước một chủ đề đầy nhạy cảm như lá cờ.
Với những người Việt hải ngoại vốn rời khỏi Miền Nam Việt Nam sau biến cố 30/4/1975, cờ vàng không chỉ là biểu tượng của quê hương đất nước, một quốc gia từng được tất cả các nước thuộc thế giới tự do công nhận, mà còn biểu trưng cho tự do, dân chủ và nhân quyền.
Trong khi đó, với phần lớn người Việt sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc Việt Nam trước năm 1975 và trên toàn Việt Nam sau 1975, cờ đỏ sao vàng không chỉ là biểu tượng của chính thể CHXHCN Việt Nam mà còn là biểu tượng của Tổ quốc, của dân tộc.
Khi những khuyết tật mang tính bản chất của hệ thống dần dần tự bộc lộ, những tội ác của chính quyền cộng sản dần dần bị phơi bày, ngày càng nhiều người Việt nhận ra rằng chế độ XHCN ở Việt Nam là một chính thể độc tài, phi nhân, bị một nhóm thiểu số áp đặt cho đa số, hoàn toàn không thể hiện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân. Những người đã thức tỉnh đó vì thế cũng ý thức được rằng lá cờ đỏ sao vàng không thể là biểu tượng của Tổ quốc, của dân tộc Việt Nam, cho dù nó được cộng đồng quốc tế công nhận.
Với đa số người Việt buộc phải từ bỏ nơi chôn rau cắt rốn để thoát khỏi ách cai trị cộng sản, lá cờ màu đỏ là hiện thân của tội ác và khơi gợi lại trong họ những nỗi đau khôn cùng. Trong suy nghĩ của họ, chính vì lá cờ đó mà họ buộc phải rời bỏ quê hương trên những con thuyền mong manh giữa đại dương sóng dữ, buộc phải chứng kiến hình ảnh người thân của mình chìm nghỉm giữa biển khơi và làm mồi cho cá, hay cảnh tượng vợ con, thân quyến bị hải tặc cưỡng hiếp… Không ít người trong số họ hễ có cơ hội là sẵn sàng dẫm đạp lên lá cờ đỏ, một phản ứng hoàn toàn dễ hiểu nếu chúng ta biết được những gì họ đã từng trải qua. Và như một lẽ tự nhiên, họ cảm thấy dị ứng với bất kỳ ai yêu mến hoặc trân trọng lá cờ đó.
Như đã nói ở trên, với phần lớn người Việt sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc trước 1975 và trên toàn Việt Nam sau 1975, lá cờ đỏ sao vàng vẫn được coi là biểu tượng của quốc gia. Vì thế, việc họ nâng niu lá cờ đó là điều bình thường, như chúng ta vẫn thấy trên các sân bóng đá có người Việt tham dự.
Điều đáng nói là kể cả những người đã thức tỉnh và ngày càng đông lên kia, họ không những không thể hành xử với cờ đỏ như những người Việt hải ngoại vốn là nạn nhân của cộng sản, mà một bộ phận trong số đó còn có những tình cảm khó diễn tả với lá cờ này. Đó là những người đã từng chiếu đấu dưới lá cờ ấy, hoặc có người thân yêu đã đổ máu, thậm chí bỏ mạng vì nó. Họ không còn đặt niềm tin vào lá cờ đó nữa, dĩ nhiên, nhưng với họ bất kỳ sự đối xử thô bạo nào dành cho lá cờ đó cũng là bất nhẫn. Và điều này cũng không có gì là khó hiểu cả.
Những người Việt trong nước đã thức tỉnh và đang đấu tranh cho một Việt Nam tự do - dân chủ có thể dành cho cờ vàng một thiện cảm đặc biệt, với ý nghĩa nó là biểu tượng của một chính thể dân chủ từng tồn tại trên một nửa đất nước, hay biểu trưng của tự do, dân chủ và nhân quyền. Tuy nhiên, nếu nói rằng tất thảy họ đều yêu mến hay thậm chí tôn thờ lá cờ đó thì e là hơi khiên cưỡng, bởi một lẽ đơn giản là họ chưa từng một ngày được sống dưới màu cờ vàng.
Với không ít người Việt trong nước đã thức tỉnh, dù không chấp nhận cờ đỏ sao vàng, dù thậm chí còn coi nó là hiện thân của một tà thuyết, một tội ác khủng khiếp mà một nhóm thiểu số đã gây ra cho cả dân tộc, nhưng họ vẫn không thể nào dẫm đạp lên lá cờ ấy. Đơn giản, họ coi đó là hành động bất nhẫn đối với hàng triệu người Việt đã từng không chỉ tôn thờ mà còn chiến đấu và hy sinh vì lá cờ ấy, những người đã ngã xuống vì nó trước khi kịp nhận ra mình đã bị lừa mị bởi những kẻ bất lương.
Cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là người Việt quốc gia vốn luôn tôn thờ cờ vàng ở Mỹ, Canada và Australia, đã làm được nhiều việc có ý nghĩa cho công cuộc giải thể cộng sản và dân chủ hoá đất nước. Họ đã tạo được áp lực đáng kể lên các nhà lập pháp sở tại để các quốc gia này đưa ra những chính sách buộc Hà Nội phải tôn trọng những quyền con người cơ bản đã được quy định trong Hiến pháp hay các công ước quốc tế mà CSVN đã ký kết. Ngoài ra, họ còn khích lệ và yểm trợ cả tinh thần lẫn vật chất cho những người đấu tranh trong nước vốn luôn phải đối mặt với đủ trò độc ác, hèn hạ của nhà cầm quyền.
Cộng sản Việt Nam rồi sẽ sụp đổ. Một chính thể dân chủ hậu cộng sản rồi sẽ ra đời, với một lá quốc kỳ mới được toàn thể nhân dân lựa chọn. Để viễn cảnh đó sớm diễn ra, việc tập hợp và đoàn kết những người từng sống dưới những màu cờ khác nhau là một tiền đề hết sức quan trọng. Và để tiền đề đó trở thành hiện thực, việc thấu hiểu và chia sẻ tình cảm của mỗi người đối với cờ vàng hay cờ đỏ là một đòi hỏi tiên quyết.

Nguồn: VOA

Monday, July 10, 2017

Hà Tĩnh mất mùa lịch sử: Bộ NN-PTNT tiếp tay lừa đảo?

Lê Anh Hùng | VOA 


Vụ lúa xuân vừa qua, Hà Tĩnh là địa phương bị mất mùa hết sức nặng nề. Theo giới chức sở tại, diện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn lên tới trên 20.000ha, trong đó hơn 12.000ha giống lúa Thiên Ưu 8 bị mất trắng.
Ông Đào Nghĩa Nhuận, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp Hà Tĩnh cho biết: “Lịch sử gần 40 năm mới lặp lại đợt dịch đạo ôn như vụ xuân 2017. Mất hơn 11 vạn tấn lương thực, 1/3 tổng sản lượng lương thực cả năm cũng đồng nghĩa hơn 40 vạn người (1/3 dân số toàn tỉnh) có khả năng 'treo niêu'.”
Với giá lúa 6.000VNĐ/kg như hiện nay, ước tính, bà con nông dân ở tỉnh nghèo Miền Trung này bị thiệt hại đến hơn 660 tỷ VNĐ. Đối với một tỉnh có đến 80% dân số làm nông nghiệp và vẫn chưa hết choáng váng sau cú sốc mang tên Formosa, đây thực sự là một thảm hoạ.

Bí thư Tỉnh uỷ Hà Tĩnh Lê Đình Sơn nhận định: “Vụ mất mùa vừa qua có nhiều nguyên nhân, bệnh đạo ôn có biến chủng. Có ảnh hưởng của thời tiết nhưng chỉ là một phần, không thể đổ lỗi hoàn toàn do thời tiết.”
Đến thời điểm này, mặc dù các cơ quan chức năng vẫn chưa đưa ra kết luận cuối cùng về vụ việc nhưng hầu hết các chuyên gia đều cho rằng “thủ phạm” của vụ mất mùa lịch sử này chính là giống lúa Thiên Ưu 8 nói trên. Vậy giống lúa này từ đâu ra?
Bài “Thiên Ưu 8 trên đồng Quảng Điền” ngày 20/6/2016 trên website của Hội Nông dân Việt Nam viết “Trạm Khuyến nông huyện Quảng Điền (tỉnh TT-Huế) cho biết, qua ba vụ theo dõi tại Quảng Điền nhận thấy giống lúa Thiên ưu 8 được Cty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương nghiên cứu chọn tạo…”. Bài “Giống lúa thuần Thiên Ưu 8 đạt năng suất cao” trên báo Thanh Hoá Điện Tử ngày 16/5/2017 lại viết “Giống lúa thuần Thiên Ưu 8 là bộ giống chất lượng, do Công ty CP Giống cây trồng Trung ương (VINASEED) chọn tạo, được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là bộ giống chuẩn quốc gia và đã được đưa vào sản xuất chính thức tại tỉnh Thanh Hóa từ nhiều năm nay.”
Trên website của VINASEED, bài “Lúa thuần Thiên Ưu 8” cho biết: “‘Chưa bao giờ thấy giống lúa nào tốt như thế’ – đó là nhận định chung của mọi người khi nhắc đến giống lúa thuần Thiên Ưu 8 do Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương nghiên cứu, chọn tạo” và “Những ngày đầu tháng 6, niềm vui đến với Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương khi giống lúa thuần năng suất, chất lượng Thiên Ưu 8 trở thành sản phẩm giống cây trồng duy nhất của Thủ đô được vinh danh trong danh sách 145 sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu toàn quốc năm 2014 (do Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phối hợp trao tặng)”. (Giống lúa lai F1 CNR 6206 của Trung Quốc thì được ghi rõ là “giống lúa lai ba dòng [C762A/RF106] do Công ty TNHH Nông nghiệp Công nghệ cao, Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên, Trung Quốc chọn tạo.”)
Bài “145 sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu nào được tôn vinh?” trên báo điện tử Dân Việt ngày 7/6/2015 cho biết: “Giống lúa thuần năng suất, chất lượng Thiên Ưu 8” của Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương nằm trong nhóm 63 sản phẩm nông nghiệp được 3 cơ quan nói trên tôn vinh.
Tuy nhiên, trong bài “Lúa bạc trắng bông bất thường: ‘Sẽ hỗ trợ thỏa đáng cho nông dân’” trên Dân Việt ngày 25/5/2016, Phó Tổng Giám đốc VINASEED Đỗ Bá Vọng lại nói “giống lúa Thiên Ưu 8 có xuất xứ từ Trung Quốc được công ty đưa vào Việt Nam và chính thức được công nhận là giống quốc gia năm 2015.” Còn trong bài “Hà Tĩnh mất mùa lịch sử: Tại người hay tại trời?” trên báo Lao Động ngày 16/6/2017 thì PGS.TS Vũ Văn Liết – Viện trưởng Viện Nghiên cứu lúa (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) – cho biết: “Hai loại giống Thiên Ưu và Nhị Ưu là giống lúa lai nhập từ Trung Quốc về và chuyển cho dân trồng.”
Như vậy, Thiên Ưu 8 là giống lúa Trung Quốc, chứ không phải Việt Nam. Điều này đã được chính Phó TGĐ VINASEED (buột miệng?) và một chuyên gia về lúa hàng đầu Việt Nam khẳng định với báo chí. Không những vậy, Thiên Ưu 8 còn là giống lúa lai chứ không phải giống lúa thuần.
Thế nhưng, trên website của mình, trên bao bì sản phẩm, cũng như trên các phương tiện truyền thông đại chúng, VINASEED lại khẳng định Thiên Ưu 8 là giống lúa thuần do chính họ “nghiên cứu” và “chọn tạo”.

Thiên Ưu 8 được VINASEED quảng cáo là giống lúa thuần, chống chịu sâu bệnh tốt, đặc biệt là kháng bệnh đạo ôn. Ảnh: Lê Anh Hùng
Chưa hết, các trang mạng chính thức đưa thông tin về giống lúa này còn khẳng định: giống lúa thuần Thiên Ưu 8 do Công ty CP Giống cây trồng Trung ương chọn tạo đã được Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, công nhận là giống quốc gia theo Quyết định số 58/QĐ-TT-CLT ngày 5/3/2015.
Chính vì được Bộ NN&PTNT công nhận là giống quốc gia nên Thiên Ưu 8 đã được một loạt tỉnh từ Nam Trung Bộ trở ra, trong đó có Hà Tĩnh, đưa vào cơ cấu giống lúa chủ lực. Năm 2016, do bị lũ lụt, Hà Tĩnh được hỗ trợ 500 tấn lúa giống, trong đó có 350 tấn Thiên Ưu 8 từ nguồn dự trữ quốc gia. Tuy nhiên, không chỉ riêng giống do Trung ương hỗ trợ mà cả giống do người dân mua trên thị trường cũng bị nhiễm bệnh.
Không còn nghi ngờ gì, việc VINASEED quảng cáo Thiên Ưu 8 là giống lúa thuần do họ nghiên cứu và chọn tạo là hành vi lừa gạt khách hàng. Nguy hiểm hơn, hành vi lừa đảo này lại được tiếp tay, hay chính xác hơn là được hợp pháp hoá, bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Mặc dù đã hai tháng trôi qua kể từ khi hiện tượng hàng chục ngàn ha lúa Thiên Ưu 8 ở Hà Tĩnh bị mất trắng được hàng loạt cơ quan truyền thông đưa tin nhưng Bộ NN&PTNT vẫn chưa đưa ra được kết luận về nguyên nhân của vụ mất mùa lịch sử đó. Phải chăng là vì họ “há miệng mắc quai”?
Ai phải chịu trách nhiệm về vụ lừa gạt này? Ai phải bồi thường cho gần nửa triệu nông dân đang rơi vào tình cảnh bị “treo niêu” ở Hà Tĩnh? 

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Tuesday, July 4, 2017

Biển Bình Thuận đang bị đầu độc như thế nào?

Lê Anh Hùng | VOA| 4.7.2017  



Ngày 28/6 vừa qua, truyền thông nhà nước đưa tin, Bộ Tài nguyên - Môi trường đã chấp thuận cho Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải ra vùng biển thuộc xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Đây là khối lượng bùn, cát sau nạo vét vũng quay tàu và khu bến chuyên dùng, phục vụ cho việc xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1.
Sự kiện một khối lượng bùn thải khổng lồ sắp được xả ra tại một địa điểm cách không xa khu bảo tồn thiên nhiên Hòn Cau (một trong 16 khu bảo tồn biển trên cả nước) đã gây xôn xao dư luận, đặc biệt là trong bối cảnh khu bảo tồn này đã phải lên tiếng kêu cứu vì tình trạng ô nhiễm do các nhà máy điện thuộc Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân gây ra suốt mấy năm nay.

Lý do Cty Điện lực Vĩnh Tân 1 đưa ra để được cấp phép xả đổ chất thải trên biển rất dễ được “thông cảm”. Tờ Pháp luật TP HCM ngày 3/11/2016 cho biết: “Theo hồ sơ xin phép Bộ TN&MT của công ty này thì khối lượng nạo vét đổ thải lớn. Nếu đổ thải, lưu giữ, xử lý trên đất liền thì phải có diện tích lớn nhưng địa hình tại huyện Tuy Phong phức tạp, không có mặt bằng để thực hiện.”
Quả vậy, Vĩnh Tân và khu vực xung quanh là một vùng đất chật hẹp: một bên là núi, một bên là biển, ở giữa là một dải đất hẹp, với địa hình phức tạp. Đây là khu vực vừa cách xa nguồn cung cấp than, vừa cách xa các trung tâm tiêu thụ điện năng, lại rất nhạy cảm về môi trường, với một khu bảo tồn biển chỉ cách đất liền vài km.
Vì thế, thật khó hiểu khi người ta lại cho xây dựng ở đây một trung tâm nhiệt điện khổng lồ, quy mô lớn nhất cả nước, với 5 nhà máy nhiệt điện than: Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2, Vĩnh Tân 3, Vĩnh Tân 4 và Vĩnh Tân 4 mở rộng. (Để hình thành mặt bằng trung tâm nhiệt điện người ta phải tiến hành san lấp hàng trăm ha mặt biển. Bãi xỉ của Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 rộng hơn 60ha, với chiều cao thiết kế 27m. Tuy nhiên, mới sau hơn 2 năm hoạt động, nó đạt đạt độ cao 12m.)
Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đã hoàn thành và đi vào hoạt động từ ngày 9/9/2014. Cả hai tổ máy của Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 đều đã thực hiện đốt than lần đầu thành công, dự kiến sẽ lần lượt đi vào hoạt động từ quý IV năm 2017 và quý II năm 2018. Ba nhà máy còn lại đều đang trong quá trình thi công.
Mới một trong tổng số năm nhà máy chính thức đi vào hoạt động mà hàng loạt vấn đề về môi trường đã xẩy ra xunh quanh trung tâm nhiệt điện này.
Mặc dù ra đời sau Khu Bảo tồn biển Hòn Cau nhưng các dự án của Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân vẫn được phép chồng lấn lên khu bảo tồn thiên nhiên này đến hơn 1.000ha. Điều này cho thấy là ngay từ đầu, vấn đề môi trường ở đây đã bị đặt xuống hàng thứ yếu. Ông Nguyễn Hữu Quý, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Bình Thuận, nhận định: “Chịu tác động ô nhiễm từ các nhà máy nhiệt điện ở Vĩnh Tân, các khu dự án khác, Khu bảo tồn biển Hòn Cau bị xóa sổ chỉ còn là vấn đề thời gian. Chất lượng nước biển tại đây cũng sẽ thay đổi không còn giữ được độ mặn đặc biệt như trước đây... Các đồng muối Cà Ná, Vĩnh Hảo còn bị khói bụi từ các nhà máy này tác động. Không sớm thì muộn diêm dân và các công ty muối ở những vùng này sẽ đối mặt với nguy cơ biến mất...”
Theo người dân địa phương, nước thải của Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 xả ra biển, nóng hơn nhiệt độ bình thường của nước biển, khiến hải sản biến mất. Vào tháng 2, 3 hàng năm, tôm hùm con ở rạn san hô rất nhiều, nhưng nay cũng không còn. Nước dưới biển nằm ở độ sâu 10m lúc nào cũng nóng hâm hẩm, các rạn san hô gần bờ đều bị chết, ốc sò thì chết hả họng, cua tấp vô bờ chết thúi. Nước thải của Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 xả ra biển gây ô nhiễm tới 5 lý, mỗi lần kéo lưới lên là thấy nước đỏ và nóng hâm hẩm.
Từ ngày 14-16/4/2015, hàng ngàn người dân địa phương đã đổ ra quốc lộ 1A đoạn chạy qua đây, khiến giao thông Bắc - Nam bị ách tắc hàng chục km, để phản đối việc Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 thải bụi than và xỉ vào môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng, không chỉ trên đất liền mà cả một vùng biển rộng lớn.
Ngày 28/4/2017, trước việc nhiều hộ dân sống gần bãi chứa tro xỉ than trên phản ánh, hàng chục hecta cây trồng ở xã Vĩnh Tân bỗng lụi tàn rồi chết dần, gây thiệt hại cho sản xuất, UBND tỉnh Bình Thuận đã có văn bản giao Sở TN-MT phối hợp với UBND huyện Tuy Phong thông báo kết quả phân tích mẫu nước giếng, mẫu đất tại khu vực gần bãi chứa tro xỉ than của Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 cho các hộ dân biết, đồng thời khuyến cáo người dân tạm thời không nên sử dụng nguồn nước ngầm (nước giếng) vào mục đích tưới tiêu cũng như ăn uống. Theo đó, kết quả phân tích hàm lượng Clorua trong nước ngầm của 3/4 hộ dân nơi đây vượt ngưỡng từ 1,2 đến 1,8 lần; hàm lượng Clorua trong 4/5 hồ nước phục vụ nhu cầu tưới tro xỉ vượt từ 1,05 đến 1,8 lần; hàm lượng tổng số muối tan ở một số nơi mặn và rất mặn.
Vùng đất từ Phan Rang đến Tuy Phong - Bắc Bình có khí hậu bán hoang mạc, khô nóng, nắng nhiều, lượng mưa ít nhất trong cả nước. Nguồn nước chính mà người dân Tuy Phong thường sử dụng là nước ngầm và nước giếng. Vì thế, việc tro và xỉ than của các nhà máy chỉ được xử lý đơn giản bằng cách quy tập vào bãi rồi tưới nước lên sẽ làm nẩy sinh hai vấn đề nan giải: (i) lượng nước tưới làm hao hụt nguồn nước ngọt vốn đã ít ỏi dành cho sinh hoạt của người dân cũng như phục vụ canh tác; và (ii) các chất độc trong tro và xỉ than vốn có hàm lượng rất cao, khi được tưới nước hoặc gặp trời mưa chúng sẽ ngấm vào mạch nước ngầm và sau một thời gian sẽ khiến toàn bộ vùng đất và vùng biển xung quanh bị nhiễm độc, bởi theo vòng tuần hoàn, cuối cùng nước sẽ chảy ra biển. 
Đáng quan ngại hơn, trong 4 nhà máy nhiệt điện tại Vĩnh Tân (tổng công suất của hai nhà máy Vĩnh Tân 4 và Vĩnh Tân 4 mở rộng chỉ bằng Vĩnh Tân 3) thì Trung Quốc làm tổng thầu EPC đến 3 nhà máy là Vĩnh Tân 1, Vĩnh Tân 2 và Vĩnh Tân 3, đồng thời là chủ đầu tư của Vĩnh Tân 1, nhà máy vừa được Bộ TN-MT cho phép xả gần 1 triệu m3 bùn thải ra biển. (Theo một điều tra mới đây của Trung Quốc, hơn 70% doanh nghiệp nước này vi phạm về môi trường.)

Quốc kỳ Trung Quốc đang tung bay tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, và sẽ còn bay phấp phới ở khu vực xung yếu này trong hàng chục năm tới. Ảnh: Lê Anh Hùng
Mới một nhà máy chính thức hoạt động mà tình trạng ô nhiễm môi trường ở Vĩnh Tân đã nghiêm trọng như vậy thì khi tất cả các nhà máy của trung tâm nhiệt điện lớn nhất cả nước này đi vào vận hành tình hình còn trầm trọng đến đâu? Đó là câu hỏi mà có lẽ không một người dân Việt Nam nào muốn nghe câu trả lời.
Xem ra, giống như ở Vũng Áng (Hà Tĩnh), số phận một vùng biển quan trọng và nhạy cảm cả về môi trường lẫn an ninh quốc phòng của Việt Nam lại được người ta đặt vào tay Trung Quốc một cách rất chi là vô tư.
Câu hỏi mà công chúng Việt Nam muốn được giải đáp ở đây là: Trách nhiệm này thuộc về ai?

* Blog của Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA

Tuesday, June 27, 2017

Những hiểm hoạ Trung Quốc tại Việt Nam đã được ngăn chặn như thế nào?

Lê Anh Hùng | Việt Nam Thời Báo


LTS.
Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn của mình đối với những người đã đồng hành với tôi suốt bao năm qua. Ngoài ra, tôi cũng muốn qua đây để truyền đi một thông điệp rằng, công cuộc cứu nước nhà khỏi âm mưu thôn tính của Trung Quốc không bao giờ là vô vọng, và đó là trách nhiệm chung của mọi người dân VN, cả trong lẫn ngoài hệ thống hiện hành.
CSVN sớm muộn gì cũng sụp đổ, nhưng nếu đất nước rơi vào tay Trung Quốc thì sẽ rất lâu, hoặc thậm chí là không bao giờ chúng ta có thể giành lại được đất nước, vì thế việc chống lại bè lũ Hán tặc cướp nước, Việt gian bán nước và ngăn chặn những hiểm hoạ “made in China” tại VN là điều hết sức cấp bách và cần thiết.
Lê Anh Hùng
Xưa nay, nhiều dự án không hợp lòng dân bị công chúng phản đối mạnh mẽ nhưng rốt cuộc chúng vẫn cứ được triển khai như thể không có chuyện gì xẩy ra với nhà cầm quyền Việt Nam. Vì thế có lẽ ít ai tin một “nhà báo lề dân” lẻ loi như tôi lại có thể góp phần khiến 8 dự án liên quan đến Trung Quốc bị dừng lại – tất cả đều nhờ những bài báo được đăng tải trên VOA. Dưới đây là danh sách cụ thể các dự án đó.
1) Ngày 11/02/2014, VOA đăng bài “Báo động: Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Quảng Trị”. Bài báo đưa tin, Cty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam (một công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi hàng đầu Việt Nam, trước đây thuộc C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm từ năm 2011) sắp được giao hơn 96ha đất, kéo dài hơn 2km dọc theo bờ biển, gần cảng Cửa Việt, để thực hiện dự án sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Tại thời điểm đó, chủ đầu tư gần như đã thoả thuận xong việc đền bù với chính quyền địa phương và người dân có đất thuộc diện thu hồi. Sau khi bài báo được đăng, người dân địa phương biết là có mấy đoàn từ Hà Nội về tìm hiểu và cuối cùng dự án đã bị huỷ. (Ngày 1/3/2014, trang Nguyentandung.org đăng bài “Trung Quốc đang có âm mưu gì ở Quảng Trị?”, trong đó họ sử dụng cả thông tin lẫn 2 bức ảnh từ bài báo của tôi trên VOA mà không ghi nguồn.)


2) Ngày 20/04/2015, VOA đăng bài “Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm hoạ mất nước”. Bài báo cho biết, trong 4 dự án nhà máy nhiệt điện tại Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân thì có đến 3 dự án rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Đặc biệt, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 lại do 2 Cty Trung Quốc làm chủ đầu tư; còn nhà máy lớn nhất là Nhiệt điện Vĩnh Tân 3 thì do Cty Cổ phần Năng lượng Vĩnh Tân 3 làm chủ đầu tư, mà Cty này gồm 3 cổ đông, trong đó cổ đông lớn nhất, chiếm 49% cổ phần, là Cty OneEnergy Ventures Ltd. của Trung Quốc.
Đầu tháng 6/2015, gần hai tháng sau khi bài báo được đăng, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã giao EVN thay chủ đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 3. (Mặc dù vậy, ngày 18/7/2015, nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1, với hai doanh nghiệp Trung Quốc nắm đến 95% cổ phần, vẫn được khởi công, mở đường cho đội quân phương bắc cắm chốt lâu dài tại khu vực xung yếu này.)
3) Ngày 07/09/2015, VOA đăng bài “Khu nghỉ dưỡng Bãi Chuối - Hải Vân: mưu đồ thâm độc của Trung Quốc?”. Theo bài báo, ngay từ năm 2009 tỉnh Thừa Thiên - Huế đã cấp 100ha đất ở khu vực Bãi Chuối cho Cty TNHH MTV Bãi Chuối để xây dựng khu nghỉ dưỡng. Bãi Chuối thuộc khu vực đèo Hải Vân, một khu vực đặc biệt trọng yếu về an ninh quốc phòng. Tổng giám đốc Cty TNHH MTV Bãi Chuối là người Hoa.
4) Ngày 08/10/2015, VOA đăng bài “Người Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Lăng Cô – Thừa Thiên Huế?”. Bài báo cho biết, ngoài 100ha đất trên đèo Hải Vân, Công ty TNHH MTV Bãi Chuối còn được giao 200ha để thực hiện dự án khu nghỉ dưỡng ở Lăng Cô. Khu vực dự án nằm ngay cạnh bờ biển, cách đường quốc phòng chạy quanh núi Hòn Dòn (nơi có kho vũ khí của Bộ Quốc phòng) khoảng 1km, cách Cảng Chân Mây chừng 4km, cách đèo Phú Gia trên QL 1A hơn 1 km, và cách đèo Hải Vân khoảng 7km.
Điều đáng nói là Cattigara One Ltd., công ty mẹ của Cty TNHH MTV Bãi Chuối, là một công ty ma do Bắc Kinh lập ra ở Singapore rồi lấy pháp nhân Singapore để dễ dàng được giao đất dự án ở những khu vực nhạy cảm về an ninh quốc phòng.
Sau khi hai báo báo trên được đăng, cả hai dự án của “nhà đầu tư” Cattigara One Ltd. đều bị tạm dừng.
5) Ngày 09/12/2015, VOA đăng bài “Hiểm hoạ Trung Quốc ở Bình Định”. Theo bài báo, ngoài ba doanh nghiệp Trung Quốc tại Khu Kinh tế Nhơn Hội, hiểm hoạ “made in China” ở đây còn tiềm ẩn trong một đại dự án dầu khí sắp triển khai. Ngày 2/12/2014, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải quyết định bổ sung Dự án Tổ hợp Lọc hóa dầu Nhơn Hội (Victory) vào Quy hoạch phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến 2015 và định hướng đến 2025. Đây là dự án do Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT) làm chủ đầu tư, vốn đầu tư giai đoạn 1 lên tới 22 tỷ USD. Theo kế hoạch, dự án được khởi công vào quý I năm 2017 và vận hành quý I năm 2021.
Pailin Chuchottaworn – Chủ tịch kiêm CEO PTT – là một người Thái gốc Hoa, trong khi các tỷ phú người Hoa ở Thái Lan thường liên hệ mật thiết với Bắc Kinh. Đại dự án nằm trên diện tích hàng ngàn ha này hoàn toàn có thể trở thành một Formosa Hà Tĩnh thứ 2 ở địa bàn chiến lược Nam Trung Bộ, bởi việc sang nhượng cổ phần vừa không thể cấm đoán, vừa khó kiểm soát, trong khi PTT chỉ thu xếp được 5/22 tỷ USD tổng vốn đầu tư. Ngoài ra, dự án còn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải – “cha đẻ” của hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc như Formosa Hà Tĩnh, Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân hay 264 ngàn ha rừng đầu nguồn, v.v. – bất chấp những quan ngại của giới chuyên gia về tình trạng “bội thực” các nhà máy lọc dầu cũng như nguy cơ ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp của chúng.
Đến cuối tháng 7/2016, UBND tỉnh Bình Định đã quyết định  loại bỏ dự án.
6) Ngày 5/4 và 11/4/2016, VOA đăng bài “Chuyện chỉ có ở VN: Dự án nhiệt điện hàng tỷ USD được giao cho một công ty chuyên doanh… mực in!!!” và bài “Trung Quốc lại sắp lập căn cứ ở Trung tâm Nhiệt điện Sông Hậu?” Hai bài báo đã vạch trần “nhóm lợi ích Tàu” trong bộ máy đã phù phép để giao một dự án nhiệt điện lên tới 3,5 tỷ USD tại một vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng cho một công ty chuyên kinh doanh mực in của Malaysia.
Ngày 20/4/2016, trang Quochoi.org và trang Nguyentandung.org đã đăng hai bài (i) Những khuất tất đằng sau dự án Nhiệt điện Sông Hậu 2 (Kỳ 1), và (ii) Bóng ma Trung Quốc trong dự án Nhiệt điện Sông Hậu 2 (Kỳ 2). Cả hai bài này đều bê gần như nguyên xi 2 bài trên VOA của tôi.
Ngày 10/5/2016, tức một tháng sau khi VOA đăng 2 bài điều tra nói trên và được nhiều trang mạng khác đăng lại, Dân Trí đăng bài “Một doanh nghiệp mực in được làm nhà máy điện 2000 MW?”. Bài viết đã lấy một số thông tin từ hai bài trên của tôi. Kể từ đấy, cái tên TOYO INK cùng dự án nhiệt điện Sông Hậu 2 hoàn toàn biến mất trên truyền thông. Dự án coi như đã bị khai tử.
7) Ngày 29/05/2016, VOA đăng bài “Báo động: Người Trung Quốc đã lập căn cứ sát nách Cửa Việt - Quảng Trị”. Bài báo cho biết Trung Quốc lại đang lập một căn cứ khác sát nách cảng Cửa Việt thông qua thủ đoạn núp bóng người Việt để thâu tóm một doanh nghiệp thuỷ sản ở địa phương – đó là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế tại thôn Phú Hội, xã Triệu An, huyện Triệu Phong.
Sau khi bài báo đăng, hoạt động xây dựng của doanh nghiệp Trung Quốc trá hình kia đã bị dừng lại.
Ngày 18/4/2017, tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đồng ý với kiến nghị của tỉnh Kiên Giang về việc thu hồi chủ trương đầu tư dự án nhiệt điện Kiên Lương.
(Nếu có thể kể thêm thì ngày 21/09/2016, VOA còn đăng bài “Hiểm hoạ Trung Quốc trọng dự án thép Cà Nà”. Dự án sau đó đã bị tạm dừng vào tháng 4/2017. Kết quả này là nỗ lực chung của cả cộng đồng; tôi chỉ là người phân tích những hiểm hoạ về mặt an ninh quốc phòng tiềm ẩn trong dự án.)
Tất nhiên, những gì trên đây không phải là toàn bộ âm mưu của Trung Quốc ở Việt Nam. Nhiều âm mưu của họ khi tôi phát hiện ra thì dự án vỏ bọc của nó hoặc đang được thực hiện hoặc thậm chí đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
Đó là (i) dự án khu du lịch nghỉ dưỡng và sòng bài rộng đến 30ha trên bãi biển Sơn Trà - Điện Ngọc và ngay trước mặt sân bay quân sự Nước Mặn của Silver Shores, một công ty ma của do Trung Quốc lập ra ở Hồng Kông và mở chi nhánh ma ở Mỹ rồi lấy pháp nhân Mỹ để đầu tư vào Đà Nẵng – bài “Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?” (sau khi bài báo được đăng, chính quyền Đà Nẵng cùng truyền thông nhà nước mới vào cuộc và phát hiện ra người Trung Quốc đã thâu tóm hàng trăm lô đất xung quanh hòng biến khu vực này thành một “China Town”); (ii) ba dự án của Trung Quốc tại Khu Kinh tế Nhơn Hội trong bài “Hiểm hoạ Trung Quốc ở Bình Định”; (iii) dự án Nhà máy Nhiệt điện Duyên Hải 2 trong bài “Báo động: Trung tâm Nhiệt điện Duyên Hải sắp trở thành căn cứ của Trung Quốc”; (iv) dự án Nhà máy Giấy Lee&Man Việt Nam trong bài “Nhà máy giấy Lee & Man Việt Nam: một Formosa Hà Tĩnh mới ở đồng bằng sông CửuLong?”; (v) dự án toà nhà Capital Garden tại 102 Trường Chinh, Hà Nội trong bài “Thêm một âm mưu hiểm độc của tình báo Hoa Nam ở Hà Nội?”; (vi) dự án khu nghỉ dưỡng và sòng bài Hồ Tràm Strip trong bài “Hồ Tràm Strip: hiểm họa Trung Quốc trong một đại dự án mờ ám” (đây là một dự án vô cùng tinh vi, quỷ quyệt – Bắc Kinh đã lập một công ty ma ở Canada rồi lấy pháp nhân Canada để cùng một nhà đầu tư mạo hiểm của Mỹ đầu từ vào Hồ Tràm, một vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng tại Bà Rịa - Vũng Tàu, theo kiểu “hồn Trung Hoa, da Mỹ-Canada”); (vii) dự án xây dựng bến số 3 cảng Chân Mây ở Thừa Thiên - Huế trong bài “Hải cảng chiến lược Chân Mây sắp rơi vào vòng kiểm soát của Trung Quốc?”.
Dĩ nhiên, các ông chủ Trung Nam Hải còn nhiều âm mưu tinh vi quỷ quyệt trên dải đất hình chữ S nữa mà chúng ta chưa phát hiện ra, còn bản thân tôi thì không phải lúc nào cũng có điều kiện tiếp cận hiện trường các dự án.
Việc một số trang mạng nhà nước trá hình sử dụng bài của tôi rồi đăng dưới tên “bạn đọc” là bằng chứng cho thấy trong bộ máy có những tiếng nói “đồng thanh tương ứng” với tôi. Và đó chính là những tiếng nói đã góp phần ngăn chặn những hiểm hoạ “made in Zhongnanhai” sau khi VOA đăng tải các bài viết mang tính cảnh báo kia.
Dù vậy, những gì họ làm được vẫn còn xa mới tương xứng với trách nhiệm của họ hay đòi hỏi của nhân dân. Vì quyền lợi cá nhân ích kỷ của họ mà những hiểm hoạ như Formosa Hà Tĩnh vẫn tiếp tục lơ lửng trên đầu dân tộc, đe doạ sự tồn vong của giống nòi, cho dù “tác giả” của nó cùng hàng loạt hiểm hoạ Trung Quốc khác đã bị tôi vạch trần trong một vụ tố cáo công khai và đúng pháp luật hơn 9 năm qua nhưng đến nay vẫn chưa được nhà chức trách giải quyết đúng pháp luật.

Nguồn: Việt Nam Thời Báo | 27.6.2017

Friday, June 23, 2017

Vì sao Trung Quốc hay doạ đánh Việt Nam?

Lê Anh Hùng | VOA| 23.6.2017 




Nữ dân quân VN dẫn giải tù binh TQ trong cuộc chiến biên giới 1979.
Ngày 21/6 vừa qua, trang mạng của Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng bài “Căng thẳng Việt - Trung”, trong đó có đoạn: “Chuyên gia quốc tế lo ngại sẽ có đụng độ xảy ra trên biển Đông giữa Việt Nam và Trung Quốc gần bãi Tư Chính, nơi tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Việt Nam vào năm 2011. Đây là lô dầu 136/03 mà Việt Nam mới đây bắt đầu cho thực hiện các hoạt động khai thác dầu. Giáo sư Carl Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc cho biết đã có thông tin về việc Trung Quốc đã triển khai khoảng 40 tàu và máy bay vận tải Y-8 đến khu vực khai thác của Việt Nam.”
Đây không phải là lần đầu Trung Quốc có động thái hăm doạ Việt Nam. Trong quá khứ, Bắc Kinh đã không ít lần hành xử như vậy, kể cả việc điều động quân đội, và đó là những diễn biến hết sức nhạy cảm mà truyền thông chính thống của cả hai bên không bao giờ đưa tin. Kể từ năm 1990 đến nay, giữa Việt Nam và Trung Quốc không xẩy ra thêm một vụ đụng độ quân sự nào. Vì thế, người ta cũng không bao giờ biết được đầy đủ thông tin về những lần Bắc Kinh “động binh” đe doạ Hà Nội, mà chỉ nghe phong thanh qua những thông tin rò rỉ, hoặc qua những kênh thông tin không chính thức, trong bối cảnh ngay từ năm 2008, Trung Quốc đã soạn thảo kế hoạch tấn công Việt Nam trong 31 ngày một cách bài bàn và chi tiết.
Tại sao Trung Quốc hay đe doạ Việt Nam?
Mặc dù bối cảnh diễn ra các vụ căng thẳng ngoại giao khác nhau trong từng trường hợp cụ thể nhưng bản chất của chúng thì gần như không thay đổi: Việt Nam muốn bảo vệ chủ quyền hay lợi ích quốc gia hợp pháp của mình trước sự ức hiếp quá đáng của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong vụ căng thẳng đang thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận trong và ngoài nước nói trên, Việt Nam từ trước tới nay luôn khẳng định khu vực bãi Tư Chính nằm trong thềm lục địa của mình, không thuộc khu vực tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Ngược lại, phía Trung Quốc thì cho rằng khu vực đó nằm trong đường lưỡi bò, vốn do họ tưởng tượng ra và bao trùm phần lớn Biển Đông, vì thế đó là khu vực tranh chấp, cần “thương lượng, đàm phán” để “phân định”.
Việc Bắc Kinh lần này lại giở thủ đoạn đe doạ quân sự với Việt Nam là bằng chứng cho thấy đây là “ngón võ” ưa thích của họ, thường đem lại kết quả có lợi cho họ. Bởi chỉ cần một lần bị đe doạ mà đối phương không tỏ ra nao núng thì kẻ hăm doạ đã cảm thấy ê chề, còn đối tượng bị hăm doạ thì lại càng trở nên khinh nhờn, cứng đầu.
Tại sao Trung Quốc lại thường thành công với thủ đoạn đe doạ sử dụng bạo lực với Việt Nam, và tại sao dù hai bên đã không ít lần xẩy ra căng thẳng nhưng kể từ năm 1990 đến nay chưa một vụ đụng độ quân sự nào giữa hai bên được ghi nhận?
Xin thưa, lý do rất đơn giản. Trong ban lãnh đạo Việt Nam luôn tồn tại ba xu hướng quan điểm – đó là xu hướng “thân Tàu”, xu hướng “thân Mỹ, phương Tây” và xu hướng trung dung (không theo Tàu mà cũng chẳng theo Tây). Trong ba xu hướng quan điểm này, xu hướng “thân Tàu” hầu như luôn chiếm ưu thế, bằng chứng là kể từ sau Đại hội VI đến nay, các vị Tổng Bí thư luôn thể hiện lập trường đó, trong khi đất nước thì ngày càng rơi vào vòng cương toả của Bắc Kinh.
Dĩ nhiên, những người có lập trường “thân Tàu” thì luôn sẵn sàng nhượng bộ các ông chủ Trung Nam Hải, hoặc ít nhất là không phản đối trước những yêu sách của họ. Quan trọng hơn, Trung Quốc không chỉ là chỗ dựa của phái “thân Tàu”, mà còn là chỗ dựa của cả chế độ cộng sản Việt Nam. Vì thế, nếu Bắc Kinh phát động tấn công quân sự Việt Nam thì cộng sản Việt Nam gần như chắc chắn sẽ sụp đổ. Trước viễn cảnh đó, việc Trung Quốc đe doạ tấn công còn tác động đến tâm lý và làm lung lay lập trường của các thành viên có quan điểm trung dung, thậm chí cả những người có xu hướng cấp tiến trong bộ máy, bởi cho dù có căm ghét người láng giềng phương bắc “to xác, xấu bụng” đến mấy đi nữa thì những ông “vua không ngai” này cũng không muốn chế độ sụp đổ để rồi mọi quyền lực, bổng lộc bỗng chốc “một đi không trở lại”.
“Thấu hiểu” tâm lý đó nên mỗi khi căng thẳng xẩy ra, Trung Quốc thường hăm doạ tấn công Việt Nam, và kết quả là họ gần như luôn đạt được điều mình mong muốn trong những lần đe doạ “động binh”, tiến thêm một bước đến mục tiêu hiện thực hoá giấc mơ thôn tính Việt Nam vốn cháy bỏng trong tâm can suốt hàng ngàn năm nay.
Vậy nếu Hà Nội không chịu không chịu lùi bước thì Trung Quốc có dám đánh Việt Nam hay không?
Những yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông là hoàn toàn phi pháp, bất chấp cả bằng chứng lịch sử lẫn luật pháp quốc tế. Vì vậy, Trung Quốc luôn yếu thế về mặt lý lẽ, và sức mạnh đáng kể nhất của họ chính là quân sự. Mặc dù vậy, bản thân Bắc Kinh cũng rất ngại phải dùng tới sức mạnh này. Bởi lẽ nếu họ đánh Việt Nam thì Hà Nội buộc phải ngả sang Mỹ và phương Tây để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, đồng thời cải tổ hệ thống và dân chủ hoá đất nước để tự cường dân tộc, nếu không muốn bị dân chúng vùng lên lật đổ trong một cuộc cách mạng bạo lực. Còn Mỹ và đồng minh, cho dù không muốn bị cuốn vào một cuộc chiến trực diện kéo theo nhiều hậu quả khó lường với Trung Quốc, cũng sẽ vì lợi ích thiết thân của mình mà ủng hộ Việt Nam trong khả năng có thể. Chỉ chừng đó thôi đã cho thấy đây là một cuộc chiến đầy rủi ro với Bắc Kinh, chưa kể phản ứng của các quốc gia trong khu vực và cộng đồng quốc tế.
Tóm lại, chừng nào ban lãnh đạo Việt Nam còn trùm lên đầu dân tộc cái vòng kim cô mang tên Marx-Lenin, chừng đó các gọng kìm chính trị - kinh tế - quân sự mang nhãn hiệu Đại Hán vẫn dần siết chặt dải đất hình chữ S, và khi đó thì Trung Quốc chẳng dại gì mà lại muốn “dạy cho Việt Nam một bài học”.
Bất luận thế nào, khi đối tượng bị doạ dẫm cứ im lặng chịu đựng một cách hèn nhát, bạc nhược để rồi đi tới đầu hàng, nhượng bộ theo cách này hay cách khác thì quả thực là “ngu gì mà không doạ”.

* Blog của Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nguồn: VOA

Monday, June 12, 2017

Nguyễn Xuân Phúc đi vào vết xe Nguyễn Tấn Dũng?

Lê Anh Hùng | VOA| 13.6.2017 



Ngày 27/6/2006, khi chính thức tiếp quản chiếc ghế Thủ tướng từ người tiền nhiệm Phan Văn Khải, ông Nguyễn Tấn Dũng đã được kế thừa một nền kinh tế mà hầu như ai cũng đều thừa nhận là lành mạnh và hứa hẹn nhiều triển vọng nhất cho đến thời điểm đó.
Bài học từ chính phủ Nguyễn Tấn Dũng
Với tư duy hạn hẹp, tính cách độc đoán và tham vọng quyền lực lớn, một trong những việc đầu tiên mà ông Nguyễn Tấn Dũng thực hiện sau khi ngồi lên ghế Thủ tướng là giải tán Ban Nghiên cứu của Thủ tướng, một định chế tư vấn từng giúp việc rất hiệu quả cho hai vị tiền nhiệm Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, để ông ta rộng đường thi triển “chiến lược” của mình mà không bị ai can ngăn. Chiến lược của ông ta không có gì là quá phức tạp: lấy thành tích tăng trưởng kinh tế làm làm bệ phóng để nhắm đến ngôi vị quyền lực số 1 và khai thác vô tội vạ những nguồn lực mà mình nắm trong tay để đạt được “thành tựu tăng trưởng”.

Theo cựu Thủ tướng Phan Văn Khải thì“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn tạo ra một thành tích nổi bật ngay trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, muốn hoàn thành kế hoạch 5 năm chỉ trong 4 năm. Ngay trong năm 2007, ông đầu tư ồ ạt. Tiền đổ ra từ ngân sách, từ ngân hàng. Thậm chí, để có vốn lớn, dự trữ quốc gia, dự trữ ngoại tệ cũng được đưa ra. Bội chi ngân sách lớn, bất ổn vĩ mô bắt đầu”.
Khi rời chiếc ghế Thủ tướng vào ngày 6/4/2016, “di sản” mà ông Nguyễn Tấn Dũng để lại cho người kế nhiệm là một nền kinh tế phụ thuộc nặng nề vào Trung Quốc; chủ yếu dựa vào gia công lắp ráp và khai thác tài nguyên; nợ công ở mức báo động; và những con số về nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thì thường xuyên nhảy múa khiến ngay cả giới chuyên môn cũng hoa mắt, còn giá trị tuyệt đối thì không lúc nào dưới hàng trăm ngàn tỷ VNĐ.
Và lịch sử lặp lại?
Tiếp quản chiếc ghế Thủ tướng từ người tiền nhiệm Nguyễn Tấn Dũng đã hơn một năm nhưng ông Nguyễn Xuân Phúc vẫn chưa tạo ra được nhiều dấu ấn. Không những vậy, những gì diễn ra dưới sự lãnh đạo và điều hành của ông còn khiến người ta không khỏi nghĩ rằng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đang đi vào vết xe đổ của người tiền nhiệm.
Hơn một năm qua, việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế diễn ra chậm chạp, nền kinh tế vẫn phụ thuộc nhiều vào hoạt động gia công, lắp ráp và khai thác tài nguyên.
Kết thúc năm 2016, mặc dù giá trị nhập siêu từ Trung Quốc giảm từ đỉnh cao 32 tỷ USD của năm 2015 xuống còn 28 tỷ USD và tỷ trọng hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch XNK giảm từ mức đỉnh cao 29,9% của năm 2015 xuống còn 28,7%, song nguy cơ nền kinh tế Việt Nam trở thành “một bộ phận không thể chối cãi của Trung Quốc” vẫn lơ lửng qua những diễn biến đáng lo ngại gần đây: (i) Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn nồng nhiệt mời gọi các nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam; (ii) bản Thông cáo chung Việt - Trung ngày 14/9/2016 nhân chuyến thăm Trung Quốc của Thủ tướng Việt Nam chứa đựng nhiều nội dung bất lợi về kinh tế - chính trị cho Hà Nội; (iii) ngày 11/5/2017, tại cuộc tiếp Chủ tịch Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB – định chế tài chính do Trung Quốc khởi xướng và lãnh đạo), Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã bày tỏ mong muốn AIIB sớm tài trợ vốn cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong năm nay (AIIB thậm chí còn cam kết tài trợ vốn ưu đãi cho các dự án thuộc khu vực tư nhân mà không cần chính phủ bảo lãnh); (iv) Việt Nam đang đứng trước làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ Trung Quốc, đặc biệt là thông qua hình thức thâu tóm các dự án bất động sản, mua cổ phần các doanh nghiệp, thậm chí có lúc Trung Quốc còn vượt qua cả Hàn Quốc và Nhật Bản để trở thành quốc gia có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) lớn thứ hai ở Việt Nam, chỉ sau Singapore.
Theo tính toán của TS Vũ Quang Việt, chuyên gia thống kê của Liên Hợp Quốc, nợ công của Việt Nam năm 2016 đã lên tới210% GDP, và tỷ lệ này vẫn đang tiếp tục tăng.
Trong tờ trình gửi Uỷ ban Thường vụ Quốc hội mới đây để đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về xử lý nợ xấu, chính phủ cho biết là đến cuối năm 2016, nợ xấu – bao gồm cả nợ đang nằm tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam – chiếm 5,8%, còn nếu tính cả nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu thì chiếm đến 10,08% tổng dư nợ, tức gần 600.000 tỷ VNĐ. Nghĩa là, dưới thời chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, vấn nạn nợ xấu ngân hàng không những chưa giải quyết được mà còn trầm trọng hơn, đến mức chính phủ buộc phải đề nghị Quốc hội can thiệp bằng… nghị quyết.  
Tại kỳ họp thứ II năm ngoái, Quốc hội đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2017 là 6,7%. Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng quý I năm nay lại rất thấp, chỉ ở mức 5,1%. Vì thế, nhiều chuyên gia cũng như Đại biểu Quốc hội cho rằng mục tiêu trên là khó đạt, đồng thời khuyến nghị chính phủ không nên chạy theo thành tích tăng trưởng, mà cần chú trọng chất lượng tăng trưởng để đảm bảo phát triển bền vững. Vậy nhưng, thay vì nhân cơ hội có nhiều tiếng nói đồng thuận trong việc hy sinh tốc độ tăng trưởng để đẩy mạnh tái cấu trúc nền kinh tế, hướng đến phát triển bền vững, chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vẫn quyết tâm đạt cho bằng được chỉ tiêu tăng trưởng.
Bất chấp phương tiện?
Và ba giải pháp chính mà chính phủ mới đưa ra để đạt được mục tiêu tăng trưởng nói trên hẳn khiến ai cũng phải thất vọng tràn trề: (i) tăng khai thác dầu thô – tức là tiếp tục điệp khúc khai thác tài nguyên thiên nhiên đến cạn kiệt; (ii) bám sát kế hoạch sản xuất của các nhà máy Samsung vì tập đoàn này dự kiến tăng doanh thu xuất khẩu năm 2017 lên 20% so với năm ngoái – tức là tiếp tục khai thác “sở trường” gia công, lắp ráp; và (iii) giao cho các Bộ, ngành liên quan nhanh chóng hoàn thành các công việc liên quan đến xử lý vấn đề môi trường để xem xét cho phép nhà máy của Formosa đi vào vận hành – tức là chấp nhận đánh đổi không chỉ môi trường mà cả những hiểm hoạ về an ninh quốc phòng và bất ổn xã hội để lấy “tăng trưởng”.
Để thể hiện quyết tâm của mình, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thậm chí còn đặt vấn đề xử lý kỷ luật cấp dưới nếu không hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng. Đây là biểu hiện thường thấy của thứ “văn hoá thành tích” điển hình của chế độ. Trớ trêu thay, chính người đứng đầu chính phủ Việt Nam lại đang hô hào tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.
Bất kể ông Nguyễn Xuân Phúc có nuôi tham vọng tiếp quản chiếc ghế Tổng Bí thư mà ông Nguyễn Phú Trọng sẽ rời bỏ vào giữa năm tới hay không, song những gì trên đây cho thấy là chính phủ của ông dường như đang đi vào vết xe đổ của người tiền nhiệm.
Việt Nam rồi sẽ lại bỏ lỡ những vận hội quý giá, rồi sẽ lại mất thời gian điều chỉnh, rồi sẽ tiếp tục bị gọng kìm kinh tế - chính trị - quân sự của Bắc Kinh siết chặt, tiếp tục xu hướng tụt hậu ngày càng xa so với các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc – mối đe doạ chiến lược đang phủ bóng đen lên tương lai dòng giống “con Lạc cháu Hồng”.

* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 


Lê Anh Hùng là một blogger/dịch giả/nhà báo độc lập ở Hà Nội và là người đấu tranh vì tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam từ nhiều năm nay.


Nguồn: VOA