Friday, September 20, 2013

Nhà phát triển bất động sản người Mỹ để lại sự tức giận ở Việt Nam

Chris Brummitt | Associated Press | 19.9.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



(Hà Nội) – Giữa lúc cơn bùng nổ bất động sản đầu tiên đổ vỡ xung quanh mình, nhà phát triển bất động sản người Mỹ Edward Chi vẫn hứa hẹn với các nhà đầu tư là những căn hộ hào nhoáng vẫn sẽ đến tay họ theo đúng kế hoạch. Thậm chí, doanh nhân này còn nói là ông sẽ bán tài sản ở California để hoàn tiền cho họ nếu công việc thi công những dự án mà một công ty bất động sản danh tiếng của Mỹ tiếp thị rầm rộ này phải dừng lại.
Nhưng rồi ông Chi lại trốn khỏi một cuộc họp căng thẳng với các chủ nhà tương lai vào năm ngoái và không bao giờ quay lại nữa, để lại những móng nhà của khu chung cư hoen rỉ cùng ít nhất 128 nhà đầu tư đang tức giận, nhiều người trong số họ đã đặt cọc hơn 150.000USD từ tiền tiết kiệm hay tiền vay ngân hàng. Công an nói ông Chi đã rời khỏi Việt Nam và không liên lạc được.
Ông Chi là một trong hàng loạt nhà phát triển bất động sản bị cuốn hút vào thị trường BĐS Việt Nam cuối những năm 2000, khi giới chức cộng sản khuyến khích các ngân hàng quốc doanh cung cấp tín dụng dễ dãi cho các nhà đầu tư và các nhà phát triển BĐS như một phần của nỗ lực kích thích nền kinh tế, mà kết quả là giá đất đã tăng mạnh. Đây là một hiện tượng mới đối với Việt Nam, đất nước mới chỉ bắt đầu mở cửa nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung những năm 1980. Nhiều nhà phát triển BĐS là DNNN không có kinh nghiệm về BĐS. Bất chấp những kỳ vọng là quyền sở hữu nhà ở sẽ đến với quảng đại quần chúng, những người mua nhà vẫn thường là các nhà đầu cơ, họ tìm cách mua thông tin về quy hoạch và nhanh chóng kiếm lợi nhuận.
“Bỗng nhiên ai nấy đều ngừng hoạt động sản xuất giày dép, dụng cụ, hay bất kể thứ gì, rồi trở thành các nhà phát triển bất động sản sau một đêm”, Marc Townsend – giám đốc điều hành bộ phận Việt Nam của tập đoàn BĐS toàn cầu CB Richard Ellis Group – nhận xét. “Và quanh thành phố nhan nhản những công trình dở dang.”
Như vô số nước đã nhận ra, giá nhà đất có thể xuống nhanh như khi lên. Việt Nam cũng đã rút ra bài học đắt giá đó vào cuối năm 2010 khi nền kinh tế rơi vào đình trệ. Ở một số vùng, giá cả giảm tới 50%, và không ai tiên đoán về một sự hồi phục. Các ngân hàng thì ngập trong nợ xấu, với nhiều món nợ có thế chấp BĐS, và ngại cho vay – điều này kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế từng một thời phát triển rất nhanh.
Với những toà nhà chọc trời và khu phức hợp nhà ở chưa hoàn thiện tạo nên bức tranh nham nhở tại nhiều khu vực của Hà Nội và những nơi khác, những câu chuyện về các nhà phát triển BĐS “bỏ của chạy lấy người” đang xuất hiện trên các diễn đàn trực tuyến cũng như trên các phương tiện truyền thông vốn bị kiểm soát chặt chẽ, mở ra một kênh mới để người ta trút giận vào giới chức cộng sản, những người chịu trách nhiệm quản lý trước tình trạng đầu cơ tràn lan này.
“Chúng tôi bị lừa dối và cũng cảm thấy thất vọng với chính quyền, những người chưa hề tỏ dấu hiệu cho thấy là họ sẽ điều tra về thực trạng này”, ông Trần Thanh Hải – người đã nộp tiền lần đầu 180.000USD để mua một căn hộ 210m2 trong dự án quan trọng nhất của ông Chi là Tricon Towers nằm ở ngoại vi phía Tây Hà Nội – bày tỏ.
Trong bối cảnh các nhà phát triển BĐS thiếu kinh nghiệm cũng như những ngân hàng yếu kém với các khoản cho vay dựa trên thế chấp là các dự án BĐS thua lỗ vẫn còn phải chịu thêm nhiều áp lực, các nhà môi giới BĐS lo ngại là các nhà đầu tư BĐS khác đang chuẩn bị đón nhận một sự ngạc nhiên hãi hùng khác. Chính phủ đã thành lập một công ty quản lý tài sản để mua nợ xấu và đưa chúng ra khỏi bảng cân đối tài khoản của các ngân hàng, song ít người trong ngành tin rằng nó có đủ quyết tâm và quyền lực để giải quyết triệt để vấn để.
Các ngân hàng, mà nhiều trong số đó lại nằm dưới sự điều hành của các vị chủ tịch và cổ đông có nhiều mối quan hệ chính trị ảnh hưởng, dường như không sẵn sàng chấp nhận thua lỗ; họ ưa dấu giếm mức độ rủi ro của mình và đặt cược rằng một cuộc phục hồi kinh tế toàn cầu sẽ dẫn đến hiện tượng tăng giá tài sản. Hai năm sau khi cuộc khủng hoảng trở nên rõ ràng, người ta vẫn chưa biết một khoản nợ xấu nào đã được bán và cũng chưa có sự tính toán chuẩn xác nào về số nợ trong hệ thống.
“Để thay đổi thì bạn cần phải nhận ra vấn đề, mà ở đây người ta lại không nhận ra là có vấn đề”, Sameer Goyal (điều phối viên tài chính và khu vực tư của Ngân hàng Thế giới ở Việt Nam) nhận xét.
Ông Chi, một người Mỹ gốc Việt, là nhân vật nổi tiếng trong giới kinh doanh và đầu tư ở Hà Nội và Tp HCM trước khi đột ngột rời Việt Nam năm ngoái. Một nhà môi giới BĐS biết ông ta nói rằng Chi (theo giấy phép kinh doanh thì năm nay 49 tuổi) từng làm việc trong ngành bảo hiểm trước khi khởi nghiệp kinh doanh BĐS.
Hãng tin AP đã vài lần cố gắng liên lạc với ông Chi bằng cách sử dụng các số điện thoại gắn với địa chỉ ở California mà ông ta sử dụng khi xin cấp giấy phép kinh doanh ở Việt Nam và thông qua gia đình cũng như các đồng nghiệp cũ. Tuy nhiên, tất cả đều bất thành.
Minh Việt, công ty do ông ta thành lập, dường như chỉ gặp đôi chút khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư khi dự án của ông ở Hà Nội khởi công giữa năm 2009. Họ quảng cáo về ba toà tháp 44 tầng “siêu hiệu đại” với 734 căn hộ và thời hạn bàn giao là cuối năm 2011. Chúng được xây dựng ở ngoại vi phía Tây Hà Nội, khu vực được chính phủ thúc đẩy để trở thành một trung tâm thương mại và dân cư mới. Sau đó, Minh Việt tiếp thị và nhận tiền đặt cọc cho dự án thứ hai trông ra Vịnh Hạ Long, một điểm du lịch ở miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, công việc thi công không bao giờ diễn ra ở đây cả.
Những ai nghi ngờ về mức độ tin cậy của ông Chi lại cảm thấy tin tưởng đối tác nước ngoài nổi tiếng của ông ta. Ông Chi nhận được nhượng quyền kinh doanh tại Việt Nam từ Coldwell Banker, và sử dụng thương hiệu của nhà môi giới bất động sản Hoa Kỳ này một cách rộng rãi trong các dự án của mình. Coldwell Banker cho biết họ đã chấm dứt hợp đồng với ông Chi năm 2012 và từ chối bình luận thêm, viện cớ là cảnh sát đang điều tra ông ta.
Một nhà đầu tư Việt kiều cho biết bà tin tưởng dự án Vịnh Hạ Long vì cái tên Coldwell Banker. Bà nói bà cũng từng cho rằng dự án được chính phủ Việt Nam hậu thuẫn, và dẫn ra những quảng cáo trên các phương tiện truyền thông nhà nước. Bà cho hay ông Chi xuất hiện trong một cuộc điện thoại video với đội ngũ bán hàng của mình để ký kết hợp đồng.
“Tôi tin tưởng nó vì danh tiếng của Coldwell Banker, nhưng bây giờ họ lại phủi tay khỏi dự án, y như những gì mà chính phủ Việt Nam đang làm”, nhà đầu tư này nói (bà cho biết tên bà là Ngọc).
Trên trang mạng bóng bẩy quảng bá cho các bất động sản, ông Chi vẫn duy trì chính sách bán hàng “rắn” (hard sell) ngay cả khi hoạt động thi công trở nên phập phù và tranh chấp giữa Minh Việt và Coteccons, nhà thầu xây dựng Việt Nam, xuất hiện. Các bản tin truyền thông nói Minh Việt nợ Coteccons 7,5 triệu USD. Công ty này từ chối bình luận.
Nguyễn Ngọc Tuấn, một kỹ sư 37 tuổi, cho biết ông đã trả 180.000USD cho Minh Việt, 80.000USD từ tiền tiết kiệm và số còn lại vay từ một ngân hàng sở tại. Ông sử dụng hợp đồng ký với Minh Việt để thế chấp cho khoản vay. Ông hiện đang thuê một ngôi nhà, và dự kiến là thất nợ.
“Lương của vợ chồng tôi không đủ để trả lãi ngân hàng”, ông nói. “Tôi đã đề nghị ngân hàng đóng băng khoản vay, nhưng họ không đồng ý. Trong tương lai, tôi dự định sẽ không trả lãi bởi chúng tôi đơn giản là không đủ tiền để nuôi sống gia đình.”
Một quan chức công an cho biết họ đang điều tra ông Chi sau khi các nhà đầu tư nộp đơn khiếu nại, nhưng ông ta lại rời Việt Nam năm ngoái. Ông ta không cho biết tên bởi ông ta không được phép nói chuyện với truyền thông. Chưa rõ cuộc điều tra đã đi đến đâu. AP đã nói chuyện với hai đồng nghiệp Coldwell Banker vẫn ở Việt Nam của ông Chi. Cả hai đều nói cảnh sát chưa tiếp xúc với họ.
Trần Thanh Hải, một nhà đầu tư, cho biết là trong một cuộc họp ngày 12.7 năm ngoái, ông Chi hứa hẹn sẽ hoàn tiền cho khách hàng bằng cách bán nhà ở California nếu cần. Ông và những người khác vẫn đang lần theo dấu vết của ông Chi, song lại chỉ phát hiện ra thêm những sự lừa dối rõ ràng khác.
“Sau đó chúng tôi kiểm tra trên mạng, ngôi nhà kia đã được bán vài lần kể từ năm 2006 và chủ nhân cuối cùng không phải là Edward Chi.”
Những ngày này, showroom từng một thời nhấp nhánh ánh đèn của Tricon Towers đã bị bỏ rơi, với một bảng hiệu rách nát phất phơ trong gió.
Những cọc thép đang han rỉ cùng một khối bê tông là dấu hiệu duy nhất của tham vọng mà ông Chi từng theo đuổi. Trên tuyến phố từng một thời là nơi mà các nhà môi giới bất động sản đặt hàng dãy văn phòng, nay chỉ còn một văn phòng đang hoạt động.
Nguyễn Tuấn Lợi nói rằng ở đỉnh điểm của cơn bùng nổ bất động sản năm 2010, vài tháng sau khi Tricon khởi công, ông bán lại các ngôi nhà chỉ 4 ngày sau khi mua. Giờ đây ông nói là ông cảm thấy may mắn khi kiếm được mỗi tháng một vụ, và đã phải bán chiếc ô tô để mua xe máy.

Friday, September 13, 2013

Tổ chức Minh bạch Quốc tế: Những công dân chống tham nhũng ở Việt Nam

 Transparency International | 12.9.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng




Phản ứng tàn nhẫn của tham nhũng: vụ Đoàn Văn Vươn
Đầu năm ngoái, gần thành phố cảng Hải Phòng, người nông dân nuôi trồng thuỷ sản Đoàn Văn Vươn đã tự vũ trang cho mình bằng bom và súng đạn tự chế trong cuộc kháng cự bạo liệt trước những quan chức chính quyền đến cưỡng chế thu hồi đất đai của ông.
Đoàn Văn Vươn nhận được tài sản của mình từ năm 1993 và giống như tất cả những người nắm giữ đất đai ở Việt Nam, ông chỉ có quyền sử dụng đất tạm thời. Lúc đó, ông đã chuyển vùng đất sình lầy này thành một cơ sở ăn nên làm ra bằng cách nuôi tôm và cá.
Cuộc đối đầu với các quan chức chính quyền làm cho 7 sỹ quan công an bị thương song tiếng vang mà vụ việc tạo ra đã khiến Thủ tướng Việt Nam công khai phê bình chính quyền địa phương ở Hải Phòng và tuyên bố vụ cưỡng chế là bất hợp pháp. Ngày hôm sau vụ cưỡng chế, hơn 100 cảnh sát và an ninh xông vào khu đất của ông Vươn, họ đập phá cả nhà ông lẫn nhà em trai ông, hai ngôi nhà thậm chí không nằm trong chỉ giới đất thu hồi.
Kể từ đó, Đoàn Văn Vươn và gia đình ông được phép giữ đất của mình vì một cuộc điều tra cho thấy là các quan chức địa phương đã sai khi ra lệnh cưỡng chế ông, nhưng tháng Tư vừa qua ông vẫn bị kết án 5 năm tù giam với tội danh cố ý giết người như là kết quả của sự xung đột với chính quyền.
Hai năm qua, Việt Nam đã chứng kiến những tấm gương khác thường về hiện tượng những người dân bình thường đứng lên chống tham nhũng. Song những công dân ưu tư này lại phải đối mặt với những thách thức khó khăn và trong một số trường hợp còn thấy mình bị các thiết chế mà họ chỉ trích biến thành mục tiêu vì sự dũng cảm của bản thân.
Vụ Đoàn Văn Vươn (xem phần đóng khung ở trên) là một dẫn chứng, một người kinh doanh nhỏ bị đẩy ra khỏi khu đất của mình vì một vụ tranh chấp: rốt cuộc ông đã dùng sức mạnh vật chất để đối đầu với chính quyền khi những đơn thư khiếu nại bị bác bỏ và mặc dù những yêu sách về đất đai của ông sau đó đã được chấp thuận nhưng ông vẫn bị kết án 5 năm tù vì tội cố ý giết người. Vài tháng trước đó, phóng viên điều tra Hoàng Khương, người đã bí mật điều tra để phơi bày nạn tham nhũng trong lực lượng công an nhưng lại bị kết án 4 năm tù giam vì hối lộ một viên cảnh sát trong một vụ giả dạng để điều tra do chính ông ông thực hiện và ghi âm nhằm phục vụ cho bài viết của mình.
Trong vụ Đoàn Văn Vươn, Toà àn Nhân dân Tp Hải Phòng sau đó đã nhận thấy rằng các văn bản về quản lý đất đai đã dẫn đến những sai lầm trong việc thu hồi đất đai của ông. Những người khác cũng từng chỉ ra rằng các vụ thu hồi đất trong một số trường hợp được những quan chức địa phương nhận “hoa hồng” từ các chủ đất mới thúc đẩy.

DŨNG KHÍ CỦA NIỀM TIN

Bất chấp những vụ trả đũa kiểu như thế, một số người vẫn sẵn sàng lên tiếng chống lại tham nhũng. Nhà giáo về hưu Lê Hiền Đức (80 tuổi, người từng được trao Giải thưởng Liêm chính của Tổ chức Minh bạch Quốc tế năm 2007) vẫn tiếp tục nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo tham nhũng liên quan đến đất đai, và hiện nay đã xuất hiện một trang mạng, www.toidihoilo.com, để mọi người gửi gắm và chia sẻ những trải nghiệm về hối lộ. Một nhóm sinh viên cũng đã xây dựng các bộ quy tắc ứng xử cho sinh viên và giáo viên như một phần của dự án School is Beautifulnhằm nâng cao sự liêm chính và minh bạch trong giáo dục.
Một số sáng kiến như thế đã được thừa nhận và hỗ trợ bởi chính phủ và các đối tác phát triển ở Việt Nam thông qua Chương trình Sáng kiến Chống tham nhũng ở Việt Nam (VACI)

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH

Báo cáo Tham nhũng Toàn cầu năm 2013 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI) nhận thấy rằng quản lý đất đai là lĩnh vực được cảm nhận tham nhũng nhiều thứ hai ở Việt Nam với tỷ lệ hơn một trong năm người tiếp xúc với các dịch vụ đất đai từng hối lộ trong năm ngoái. Không những thế, tham nhũng trong lĩnh vực đất đai dường như còn đang diễn ra ngày càng xấu hơn tại các đô thị ở Việt Nam, với 34% công dân thành thị từng một lần hối lộ năm 2013, so với mức 25% trong một cuộc khảo sát tương tự của Tổ chức Minh bạch Quốc tế năm 2010.
Tình trạng tham nhũng trong lực lượng công an và tư pháp cũng đang ngày càng tăng. Tỷ lệ công dân đô thị ở Việt Nam trong số những người tiếp xúc với hai lĩnh vực này từng một lần hối lộ công an đã tăng lên 64% (từ mức 49% năm 2010) và tư pháp là 22% từ mức 16% năm 2010).

HIỆU ỨNG CỦA BIỆN PHÁP TỰ KIỂM SOÁT

Tham nhũng là lỗi hệ thống trong những thiết chế chủ chốt với nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, và điều này cho thấy tình cảnh khó khăn mà những người như ông Vươn phải đối mặt. Câu chuyện được quảng bá tốt của ông cũng như các vụ việc tương tự đã châm ngòi cho những cuộc phản đối của công chúng, qua đó người ta nhận thấy người dân ngày càng tức giận trước tình trạng quản lý yếu kém cũng như sự thiếu minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động của các quan chức chính quyền. Nhưng các công dân Việt Nam nói chung bắt đầu ngày càng bi quan về vai trò mà người dân có thể thực hiện trong công cuộc chống tham nhũng.
Năm 2013, 53% dân cư đô thị ở Việt Nam không đồng ý rằng người dân bình thường có thể tạo ra sự khác biệt trong công cuộc chống tham nhũng, so với mức chỉ 33% năm 2010. 79% người dân cho biết họ sẽ không báo cáo về tham nhũng vì “điều đó sẽ không tạo ra sự khác biệt” hoặc vì “họ sợ hậu quả”. Trong tất cả các nước được khảo sát ở Đông Nam Á thì công dân Việt Nam là những người ít sẵn sàng báo cáo tham nhũng nhất, đồng thời cũng là những người ít từ chối đưa hối lộ nhất.
Những ví dụ tích cực về sự đối đầu thành công với nạn tham nhũng mang tính hệ thống có thể thay đổi thực trạng trên. Và giữa lúc mức độ tham nhũng ở Việt Nam được cảm nhận là ngày càng tăng lên còn niềm tin của công chúng vào nỗ lực chống tham nhũng của chính quyền lại ngày càng đi xuống thì việc nêu bật thành công và kêu gọi nhà chức trách hỗ trợ chứ không tấn công những người đang tìm cách phơi bày tiêu cực vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng.

Wednesday, September 11, 2013

Biển Đông dưới con mắt của Trung Quốc


James R. Holmes| The Diplomat | 9.9.2013
Người dịch: Lê Anh Hùng



Tuần trước, một người bạn đề nghị tôi lật lại một trường hợp tương đồng trong lịch sử, từng được đưa ra thảo luận trong những ngày đầy phấn khích năm ngoái, khi tôi viết cho Flashpoints. Một ý tưởng tuyệt vời! Ở đây còn có nhiều điều để nói thêm về sự so sánh đó, sự so sánh giúp lý giải tại sao Trung Quốc hợp tác tốt với các nước khác ở Ấn Độ Dương trong khi lại gây xung đột trên Biển Hoa Đông và Biển Đông.
Sự tương đồng ấy chính là phương châm “phi hoà bình ngoài giới tuyến” từng được thực hành ở Châu Âu thời Phục hưng. Xin đúc kết lại ở đây: trong một khoảnh khắc loé sáng của thứ tư duy mâu thuẫn tập thể, các nhà cai trị ở Châu Âu đã khởi xướng một thoả thuận, theo đó các nước có thể tiếp tục chung sống hoà bình ở Châu Âu, tránh những gian truân của xung đột trực tiếp, trong khi vẫn tấn công nhau không nương tay bên ngoài giới tuyến tưởng tượng chia tách Châu Âu khỏi Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Trong thực tế, điều này có nghĩa là họ đánh úp tàu thuyền vận tải và đồn bốt của nhau trên vùng thượng biển Caribe (greater Caribbean Sea) cùng những lối vào vùng biển này từ Đại Tây Dương.

Người ta có cảm giác như thể một lực lượng đối nghịch đang hoạt động trên đấu trường Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Các cường quốc hải quân hợp tác về hướng Tây của đường giới tuyến mà bán đảo Mã Lai, eo biển Malacca và quần đảo Indonesia vạch ra. Những cuộc đối đầu thi thoảng khiến sự ngờ vực nổi lên đây đó và hiện tượng này chi phối phía Đông của vành đai Biển Đông, một giới tuyến cụ thể – thay vì tưởng tượng – chia cách khu vực này khỏi sân chơi quen thuộc trên Ấn Độ Dương.
Clausewitz, một người Châu Âu không thuộc thời kỳ Phục hưng, giúp lý giải tại sao các cường quốc biển có thể kiểm soát vịnh Aden một cách hài hoà trong khi lại tranh cãi về luật biển trên Biển Hoa Đông và Biển Đông. Đó là vì sứ mạng ở đây không liên quan gì đến chính trị. Chống cướp biển là ưu tiên hàng đầu của những nước vẫn phái tàu thuyền đi qua vùng biển ngoài khơi Somalia. Nếu có thì cũng chỉ ít nước có những lợi ích hay động cơ liên đới khả dĩ làm gián đoạn hoạt động chống cướp biển đó. Thật dễ làm việc cùng nhau khi các đối tác mang theo ít hành trang đến với sứ mạng chung ấy.
Hoặc chúng ta hãy hình dung về hiện tượng này dưới lăng kính của bộ môn cơ khí học véc-tơ (vector mechanics). Công thức đi-đến của Clausewitz cho rằng mức độ mà một chính phủ đánh giá các mục tiêu chính trị của mình sẽ quyết định quy mô và thời gian của nỗ lực mà nó huy động để đạt được chúng. Trong một liên minh, mỗi đối tác thực hiện những toan tính của mình. Vì các nước có lợi ích khác nhau, ở trên những lãnh thổ khác nhau, và nhìn thế giới qua những lăng kính lịch sử và văn hoá khác nhau, nên những tính toán của họ về giá trị của mục tiêu thường khác nhau. Ở đây, các véc-tơ phân kỳ. Những ưu tiên khác biệt làm phức tạp những nỗ lực hòng cân chỉnh các mũi tên về gần như cùng một hướng: đạt được các mục đích, chiến lược và hoạt động chung.
Quả thực là hiếm khi các đối tác trong liên minh có mục tiêu giống nhau, với ít động cơ ngầm can thiệp vào sự điều hành liên minh. Song đây dường như lại là một thực tế ở phía Tây Đại Đây Dương. Các véc-tơ chiến lược ở đây chỉ cùng một hướng, chủ yếu là tự nguyện. Sự khác biệt duy nhất là mức độ nỗ lực mà mỗi đối tác thực hiện. Tuy nhiên, những tranh cãi về việc hiện tượng trốn tránh chi phí lại ở mức tối thiểu trong một liên minh tự nguyện, phi chính thức như lực lượng đặc nhiệm chống cướp biển. Vì thế mà ở đây, hoà bình – thậm chí là hợp tác – tồn tại bên ngoài giới tuyến.
Bạn sẽ nhận thấy tôi dẫn điều này đi đến đâu. Cuộc viễn chinh đến vịnh Aden là một trường hợp dễ dàng. Nó cho thấy một kết cục thông thường, đó là các đối thủ có thể hợp tác với nhau vì lợi ích chung khi họ có cùng lợi ích trong một nỗ lực. Bây giờ, bạn hãy tự đặt mình ở Đông Á và khảo sát địa hình chiến lược trong phạm vi vòng cung ngăn cách Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Trung Quốc coi Biển Đông, xin nêu tên một vùng tranh chấp, không phải như vùng biển quốc tế mà là như một lãnh thổ ngoài bờ của họ. Thực vậy, Bắc Kinh vẫn khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” ở đây.
Những yêu sách như thế gây phiền toái cho các quốc gia Đông Nam Á, trong khi Hoa Kỳ lại hy vọng tập hợp các liên minh và các mối quan hệ đối tác để giám sát vùng biển quốc tế này. Nhưng nếu Bắc Kinh tỏ ra nghiêm túc khi cho rằng những vùng biển lân cận là “quốc thổ màu xanh dương” – và những người bạn Trung Quốc của chúng tôi thì hoàn toàn nghiêm túc – thì những kẻ đến từ bên ngoài giám sát các vùng biển ấy phải giống như những tên xâm lược. Liệu bạn sẽ coi những viên cảnh sát hay đội quân nước ngoài dạo chơi trên mảnh đất của mình – ngay cả khi vì những lý do đáng ca ngợi – mà không được sự cho phép của bạn như thế nào nữa đây?
Vì thế, dưới con mắt của người Trung Quốc, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước Đông Nam Á phải giống như hành vi chiếm đóng trái phép lãnh thổ biên cương của Trung Quốc. Và nếu ở đây tồn tại một quy luật sắt về chiến lược thì đó là: bảo vệ chủ quyền lãnh thổ là một mục đích chính trị với tầm quan trọng tối thượng. Theo cách nói của Clausewitz, điều này đòi hỏi nỗ lực bảo vệ đến cùng. Việc tìm cách đạt được sự ủng hộ của các chính phủ ASEAN hay chống phá sứ mạng kiểm soát do Hoa Kỳ lãnh đạo sẽ trở nên có ý nghĩa nếu bạn lập luận từ phương châm của Trung Quốc.[i]
Kết cục là: đối tác liên minh nằm ngoài giới tuyến,[ii]còn đối tượng phá vỡ liên minh lại nằm bên này giới tuyến.[iii]Vì thế, giữa trường hợp Châu Á và Châu Âu thời Phục hưng có một mẫu số chung, đó là lãnh thổ. Lãnh thổ quốc gia. Người Châu Âu từng nhất trí rằng những quy tắc khác nhau sẽ điều chỉnh sự tương tác giữa họ ở đại lục và ngoài đại dương. Khi làm như thế, họ tránh cho mình khỏi sự tàn phá của các cuộc xâm lược qua biên giới. Điều này thể hiện một quan điểm mà về cơ bản là bảo thủ. Trung Quốc đang tìm cách giành lại những gì mà họ coi là vùng biển lịch sử của mình. Thành ra họ thể hiện một lập trường mang tính chiếm đoạt và gây hấn nhiều hơn.
Bất kể theo cách nào, bảo vệ an toàn cho lãnh thổ và môi trường của tổ quốc vẫn là nhiệm vụ số một. Ngược lại, đặc điểm của cuộc viễn chinh đến những đấu trường xa xôi phụ thuộc vào mức độ mà lợi ích quốc gia trùng hợp hay xung đột ở đó. Các đối thủ có thể hợp tác với nhau xuất phát từ sự tiện lợi, tiếp xúc với nhau, hoặc phớt lờ nhau. Nhân tố quan trọng nhất ở đây nằm ở chỗ: chiến dịch chống cướp biển là một nỗ lực vô cùng đáng giá. Nó cần tiếp tục diễn ra. Liệu nó có thể tái diễn ở những khu vực khó kiểm soát hơn trên thế giới hay không – và liệu nó có thể cải thiện mối quan hệ tổng thể giữa các quốc gia hay không – lại là vấn đề hoàn toàn khác.
  • James R. Holmes là nhà phân tích quốc phòng của The Diplomat và là giáo sư ngành chiến lược của Đại học Hải quân Hoa Kỳ, nơi ông chuyên nghiên cứu về chiến lược biển của Hoa Kỳ, Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như lịch sử ngoại giao và quân sự của Hoa Kỳ.




[i] Ý chỉ mưu đồ của Trung Quốc hiện nay (ND).
[ii] Ý chỉ Hoa Kỳ (ND).
[iii] Ý chỉ Trung Quốc (ND).

Tuesday, September 10, 2013

CÂU CHUYỆN TẠM GIAM Ở VIỆT NAM

Lê Anh Hùng | VOA| 9.9.2013



Mặc dù pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng thời hạn tạm giam bị can, nhưng trong thực tế, thời gian tạm giam có thể là vô hạn định, do vòng quay của quy trình “điều tra, xét xử [lại]” có thể diễn ra nhiều lần, cũng như do sự coi thường pháp luật của chính các cơ quan bảo vệ pháp luật. 
Phiên toà xét xử LS Lê Quốc Quân về tội “trốn thuế” bị hoãn đột ngột ngày 8/7/2013 đồng nghĩa với việc ông tiếp tục bị tạm giam vô hạn định trong tù.
Ngày 3/9 vừa qua, LS Hà Huy Sơn, người bào chữa cho ông, đã gửi công văn đến Tòa án Nhân dân Tp Hà Nội yêu cầu trả tự do ngay cho thân chủ do đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử. Trước đó, ngày 13/8, LS Hà Huy Sơn cũng từng gửi công văn đến cơ quan này yêu cầu mở lại phiên toà xét xử vì đã quá thời hạn tạm hoãn phiên toà. Cho đến nay, cả hai công văn đều rơi tõm vào sự im lặng quen thuộc của nhà chức trách Việt Nam. Không ai biết “bánh xe công lý” của “nhà nước pháp quyền XHCN” trong vụ việc vẫn đang thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận này sẽ tiếp tục quay như thế nào.
Quy định pháp luật về tạm giam
Theo Điều 88 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự, tạm giam không phải là biện pháp bắt buộc. Điều luật này qui định là tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ Luật Hình sự qui định hình phạt tù trên 2 năm khi có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
Tuy nhiên, trong thực tế, việc áp dụng quy định pháp luật trên đây là rất tuỳ tiện, do bản chất định tính, tuỳ vào nhận định chủ quan của điều luật. Công an luôn có đủ lý do để muốn tạm giam bị can thì tạm giam, muốn cho tại ngoại thì tại ngoại. Đây chính là mảnh đất màu mỡ cho tiêu cực sinh sôi nảy nở, hoặc đối với các vụ án chính trị như trường hợp LS Lê Quốc Quân thì trở thành công cụ hữu hiệu để trấn áp ý chí của đối tượng.
Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng thời hạn tạm giam bị can, nhưng trong thực tế, thời gian tạm giam có thể là vô hạn định, do vòng quay của quy trình “điều tra, xét xử [lại]” có thể diễn ra nhiều lần cũng như do sự coi thường pháp luật của chính các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Mức độ
tội phạm
Thời gian
tạm giam trong
các giai đoạn
tố tụng (ngày)

Ít nghiêm trọng
(khung hình phạt từ 3 năm tù trở xuống)
Nghiêm trọng
(khung hình phạt mức cao nhất đến 7 năm tù)

Rất nghiêm trọng
(khung hình phạt mức cao nhất đến 15 năm tù)

Đặc biệt
nghiêm trọng
(mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình)
Thời hạn điều tra
60
90
120
120
Gia hạn điều tra 
30
90
150
480
Thời hạn truy tố 
20
20
30
30
Gia hạn truy tố 
10
15
30
30
Trả hồ sơ điều tra
bổ sung 
120
120
120
120
Gửi hồ sơ cho tòa án 
3
3
3
3
Tòa án chuẩn bị xét xử 
30

45

60

120

Gia hạn chuẩn bị xét xử 
15
15
30
30
Trả hồ sơ điều tra bổ sung 
60
60
60
60
Ra quyết định xét xử 
15
15
15
15
Tổng cộng 
363
473
618
1.008
Điều tra, xét xử lại 
Quay trở lại từ đầu
Như vậy, theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự hiện hành, để hoàn thành một quy trình từ khi điều tra, truy tố đến lúc xét xử sơ thẩm thì tuỳ mức độ phạm tội mà bị can có thể bị tạm giam tối đa từ 363 ngày đến 1.008 ngày (xem bảng trên). 
Tuy nhiên, trong thực tế, nếu bị cáo kháng án và được toà phúc thẩm tuyên huỷ án sơ thẩm để điều tra lại thì quy trình nói trên lại quay trở về điểm xuất phát. Và trong trường hợp này, luật lại không quy định cụ thể là được huỷ án để điều tra lại bao nhiêu lần. Chính vì thế mà thời hạn tạm giam có thể kéo dài vô hạn định, với nhiều trường hợp bị giam oan, như vụ án “vườn điều” nổi tiếng ở Bình Thuận, bà Nguyễn Thị Lâm bị giam oan đến 7 năm, hay vụ anh Nguyễn Minh Hùng ở Tây Ninh bị giam oan hơn 5 năm.
Theo Điều 22 của Nghị định 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 (ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam) thì người bị tạm giữ, tạm giam có thể được gặp thân nhân, luật sư hoặc người bào chữa khác, nhưng điều này lại do cơ quan đang thụ lý vụ án quyết định. 
“Luật là tao”
Sự bất cập của hệ thống pháp luật khiến cho những ai chẳng may vướng vào vòng lao lý ở Việt Nam đều trở thành nạn nhân của sự tuỳ tiện trong công tác điều tra, xét xử của các cơ quan tham gia tố tụng, đặc biệt là công an: Từ chuyện bị tạm giam hay được tại ngoại, chuyện gặp gỡ thân nhân và thậm chí là gặp luật sư, hay chuyện toà án trả hồ sơ để “điều tra lại”, v.v.
Khi bị tạm giam, bị can bị cách ly hoàn toàn khỏi xã hội. Đang được hít thở bầu không khí tự do ở ngoài thì bị bắt rồi bị giam giữ trong một căn phòng phòng kín mít với những bạn tù lạ lẫm hay thậm chí còn bị biệt giam, bị tước hết các quyền tự do cơ bản, kèm theo đó là cảm giác tội lỗi, hối hận… nên đây là giai đoạn mà người bị bắt giam dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng tinh thần nhất trong thời gian tù tội. Tâm lý khủng hoảng cũng còn do người bị tạm giam chưa biết số phận của mình: kết quả điều tra ra sao, bị truy tố theo khung hình phạt nào, v.v.
Ở Mỹ, câu nói cửa miệng của cảnh sát khi bắt giữ tội phạm là: “Anh có quyền giữ im lặng. Bất cứ điều gì anh nói sẽ được sử dụng để chống lại anh trước toà.” Câu nói mà giới chuyên môn gọi là lời cảnh báo Miranda này thể hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc cơ bản nhất trong lĩnh vực tố tụng hình sự: một cá nhân không thể bị coi là có tội cho đến khi cơ quan công tố chứng minh được là có tội và không còn tồn tại bất cứ sự nghi ngờ hay chứng cứ nào chứng minh điều ngược lại. Đó là nguyên tắc chi phối quy trình tố tụng hình sự không chỉ ở Mỹ mà ở hầu hết các nước trên thế giới.
Ở Việt Nam thì ngược lại, bất cứ ai bị bắt cũng đều bị các cơ quan tham gia tố tụng mặc nhiên coi là có tội và tìm cách buộc tội đến cùng. Lợi dụng tâm lý khủng hoảng của bị can, trại giam trở thành công cụ hữu hiệu để công an ép buộc bị can phải nhận tội bằng những cách thức như biệt giam, không cho gặp thân nhân… mà trường hợp LS Lê Quốc Quân là một ví dụ điển hình: cho đến nay, mặc dù đã bị bắt hơn 8 tháng, ông vẫn chưa được gặp trực tiếp gia đình; trường hợp anh Nguyễn Minh Hùng kể trên cũng vậy: từ ngày bị bắt cho đến khoảng 1 năm sau gia đình mới gặp lại anh tại phiên toà sơ thẩm.
Mấy năm gần đây, nhiều vụ đột tử ở đồn công an còn phơi bày một sự thật nhức nhối khác: đó là tình trạng tra tấn và bức cung bị can trong thời gian tạm giam. Điều này giải thích vì sao Việt Nam, một nước vẫn tự vỗ ngực là “tiến bộ”, lại chưa phê chuẩn Công ước Chống Tra tấn của Liên Hợp Quốc, dù đến tháng 5/2013 đã có tới 153 nước trên thế giới phê chuẩn.


Nguồn: VOA