Sunday, August 11, 2013

Hợp tác an ninh Mỹ-Việt: Tuần tự tiến | Phân tích

Sadhavi Chauhan | Observer Research Foundation| 9.8.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng



Chuyến công du Washington của Chủ tịch Trương Tấn Sang ngày 24.7 vừa qua là chuyến thăm đầu tiên của nhà lãnh đạo Việt Nam tới Hoa Kỳ, và là chuyến thăm thứ hai của một nguyên thủ Việt Nam tới Nhà Trắng kể từ khi hai nước cựu thù khôi phục quan hệ ngoại giao năm 1995. Trong 17 năm qua, công cuộc hợp tác giữa hai nước từng bước phát triển và chuyến thăm tháng qua đã chứng kiến việc ký kết hiệp định đối tác toàn diện giữa hai quốc gia.
Đáng chú ý là mặc dù hiệp định kêu gọi tăng cường quan hệ song phương về quốc phòng và an ninh, song các chủ đề bàn thảo lại chỉ đơn thuần là lặp lại những nỗ lực song phương đang diễn ra, thể hiện thái độ thận trọng của cả hai bên. Bài viết này sẽ xem xét phạm vi hợp tác an ninh hiện tại và tương lại giữa Hoa Kỳ và Việt Namtrong bối cảnh động lực an ninh không ngừng biến chuyển trong khu vực. Trong khi nhấn mạnh lợi ích an ninh chung của cả hai nước ở khu vực, bài viết cũng sẽ nêu bật những nhân tố đang cản trở mối quan hệ an ninh sâu sắc hơn giữa giữa hai bên.
Nhng diễn biến gần đây
Phát biểu trước báo giới sau cuộc gặp với Chủ tịch Sang ngày 25.7, Tổng thống Barack Obama đã tuyên bố là sự “tiến bộ từng bước một” trong mối quan hệ “đã cho phép chúng ta giờ đây loan báo về mối quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước. Điều này sẽ cho phép sự hợp tác còn lớn hơn nữa trên một loạt chủ đề từ hợp tác thương mại cho đến quân sự”. Ông đang ám chỉ đến bản chất tuần tự tiến của quá trình bình thường hoá quan hệ an ninh Mỹ-Việt sau khi hai nước khôi phục quan hệ ngoại giao.
Quyết tâm chung của cả hai nước trong việc tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh song phương đã được minh hoạ qua bản tuyên bố chung, được công bố sau cuộc gặp tại Phòng Bầu dục.[1] Đặc biệt, một Biển Đông bất ổn được thừa nhận là mối quan ngại lớn đối với cả hai nước và hai bên đã nhấn mạnh một giải pháp “hoà bình” cho những tranh chấp trong khu vực. Mặc dù không có sự đề cập trực tiếp nào đến Trung Quốc, song những lời kêu gọi về “…việc giải quyết các tranh chấp [trên Biển Đông] thông qua các biện pháp ôn hoà phù hợp với luật quốc tế, kể cả những quy định trong Công ước LQH về Luật Biển (UNCLOS)” đã thể hiện mối quan ngại trước một Trung Quốc đang ngày càng quyết đoán trong khu vực.
Hồi đầu tháng Sáu, lời kêu gọi tương tự về việc tìm kiếm một giải pháp pháp lý mà quốc tế thừa nhận cho những tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng được đưa ra bởi Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Tướng Martin Dempsey, khi ông chào đón Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, tới Washington. Với sự tháp tùng của Tư lệnh Quân chủng Phòng không – Không quân, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân và Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Tình báo Quân đội, cũng như các sỹ quan cao cấp khác, đây là chuyến thăm đầu tiên của một vị Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam tới Lầu Năm Góc. Một điểm hết sức quan trọng của chuyến đi này là chuyến thăm chóng vánh của Phái đoàn Quân sự Cao cấp Việt Nam đến tổng hành dinh Quân đoàn Lục quân số 1 của Mỹ, đơn vị được giao nhiệm vụ hoạt động ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, như một phần của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Đáng chú ý, chính chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta tới Vịnh Cam Ranh và Hà Nội cuối tháng Sáu năm ngoái đã mở đường cho các chuyến thăm lịch sử nói trên. Chuyến thăm đầu tiên của một Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ tới căn cứ quân sự cũ của Hoa Kỳ kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, điều đó đã nêu bật tầm quan trọng của hợp tác quân sự Mỹ-Việt trong khu vực. Trong chuyến thăm, Panetta đã được dẫn lời khi phát biểu, “…sẽ đặc biệt quan trọng nếu chúng ta có thể hợp tác với những đối tác như Việt Nam, có thể sử dụng những hải cảng như thế này khi chúng ta di chuyển các con tàu của mình từ các hải cảng ở Bờ Tây đến các hải cảng hay nơi đồn trú ở đây, trong khu vực Thái Bình Dương”.

Nhng nhân tố ảnh hưởng đến hợp tác an ninh

Mặc dù Hoa Kỳ không trực tiếp dính dáng gì đến các vụ tranh chấp lãnh thổ đang diễn ra ở Châu Á – Thái Bình Dương, song họ lại là một “cường quốc thường trực ở Thái Bình Dương”, như khẳng định của Phó Tổng thống Joe Biden. Thật dễ hiểu khi sự ổn định ở khu vực là mối quan tâm an ninh hàng đầu của Mỹ. Giải thích về điều này, Kurt M Campbell, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, đã nói trong một bài phát biểu ở Thượng viện năm ngoái rằng “…cơn bùng phát tranh chấp gần đây ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và Biển Nhật Bản đang tạo ra những hiệu ứng trên khắp khu vực, đe doạ gây ra những bất ổn có thể làm xói mòn lợi ích của Mỹ”.
Với mục tiêu chính ở Châu Á – Thái Bình Dương là tránh và giải quyết những xung đột khu vực, Hoa Kỳ đã từ chối đứng về một bên trong các vụ tranh chấp lãnh thổ cụ thể. Phó Tổng thống Biden đã mô tả chính sách của Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương là củng cố đồng minh, thắt chặt các mối quan hệ đối tác an ninh và đầu tư như chưa từng bao giờ vào các thiết chế khu vực nhằm xử lý các vụ tranh chấp một cách hoà bình. Trước một Trung Quốc hung hãn và ở thế đối đầu, một Trung Quốc đang đặt ra những yêu sách lớn nhất so với bất kỳ bên tranh chấp nào ở Biển Đông và vạch bản đồ của mình với yêu sách đường chữ lưỡi bò chín đoạn bao trùm phần lớn vùng biển thì việc Hoa Kỳ tìm kiếm các đồng minh khu vực hòng đối trọng với kẻ bắt nạt đang trỗi dậy này quả không cần nhiều lời giải thích.
Đặc biệt, Việt Namđã cho thấy là một đối tác then chốt trong chính sách “xoay trục” sang Châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ.[2]Theo Carlyle Thayer, một chuyên gia về Đông Nam Á ở Đại học New South Wales, Việt Nam liên tục tìm kiếm sự can dự nhiều hơn của Mỹ vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông thông qua các diễn đàn đa phương ở khu vực.[3]
Giải thích lý do của Việt Nam đằng sau việc quốc tế hoá vấn đề, và đặc biệt là sự hợp tác của họ với Hoa Kỳ, TS Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc Điều hành của tổ chức bảo vệ các quyền dân sự Boat People SOS (tiểu bang Virginia), viết: “Một điều đang thực sự đóng vai trò xúc tác hiện nay là sự hung hãn thường trực [đề cập đến Biển Đông] từ phương Bắc, tức là, từ Trung Quốc… Việt Nam không thể chống lại sự hung hãn ấy một mình… Họ phải đưa ra một quyết định – hoặc là hợp tác với Hoa Kỳ và các nước ASEAN khác để hình thành nên một mặt trận chung nhằm đẩy lùi sự hung hãn đó, hoặc là tiếp tục đồng hành với Trung Quốc.”[4]
Quyết định của Việt Namở đây đã trở nên rõ ràng qua nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI - mô tả một sự can dự chủ động với thế giới như một trong những ưu tiên hàng đầu của Hà Nội để tăng cường năng lực quốc phòng. Mặc dù những người theo đường lối cứng rắn trong ban lãnh đạo Đảng CSVN vẫn nổi tiếng vì sự gắn bó về ý thức hệ với Trung Quốc, số vụ phản đối Trung Quốc không ngừng tăng lên ở Việt Nam lại phản ảnh tai tiếng ngày càng tệ hại của Trung Quốc. Đáng chú ý là vài tháng gần đây đã chứng kiến sự đàn áp mạnh tay mà chính quyền Việt Nam nhằm vào các cuộc biểu tình như thế. Tuy nhiên, Reuters lại đưa tin rằng điều này chủ yếu được thúc đẩy bởi thực tế là các cuộc biểu tình này đã trở thành một nguồn phản đối trong nước đối với nhà nước chứ không phải bởi bản chất chống Trung Quốc của chúng.

Nhng giới hạn của việc thắt chặt hợp tác an ninh

Bất chấp mối quan hệ an ninh tăng cường giữa Việt Namvà Hoa Kỳ, điều quan trọng là cần lưu ý rằng chuyến công du mới đây của Chủ tịch Sang tới Washingtonđã kết thúc trong một cuộc đối thoại toàn diện thay vì một cuộc đối thoại chiến lược song phương như nhiều đồn đoán trước đó. Giải thích về sự khác nhau giữa mối quan hệ đối tác chiến lược và mối quan hệ đối tác toàn diện, Carlyle Thayer nói rằng các nước vẫn ký kết hiệp định đối tác chiến lược với những nước được xem là quan trọng cho việc bảo vệ lợi ích quốc gia.[5]Những diễn biến gần đây còn thiếu chuẩn mực thiết yếu đó và định hình bản chất đang tiến triển của mối quan hệ Mỹ-Việt. Vấn đề chính yếu ở đây là những diễn biến đó cũng nêu bật những giới hạn then chốt mà qua đó xác lập phạm vi hợp tác an ninh song phương trong tương lai gần.
Đầu tiên, mặc dù là mối quan ngại an ninh chung của hai nước, Bắc Kinh vẫn là một đối tác kinh tế chủ chốt của Hà Nội và Washington. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam.[6]Vì thế, điều dễ hiểu là cả hai đều tỏ ra thận trọng khi thực hiện một bước đi có thể khiến Trung Quốc thù địch.
Thứ hai, chế độ chính trị hiện thời ở Việt Nam lại tương đồng về ý thức hệ với Bắc Kinh. Lê Chí Dũng (Bộ Ngoại giao Việt Nam, đảng viên ĐCS) được dẫn lời khi phát biểu: “Chủ nghĩa dân tộc phát triển từ Khổng giáo.” Hai nước cũng tham gia vào một cuộc hội thảo giữa hai đảng cộng sản nhằm thổi luồng sinh khí mới cho cam kết vì chủ nghĩa xã hội của họ và thúc đẩy tình hữu nghị.
Thứ ba, một bộ phận người Mỹ vẫn phản đối mạnh mẽ việc tăng cường hợp tác với Việt Nam vì thành tích nhân quyền nghèo nàn của Hà Nội. Scott Flipse, Phó Giám đốc Uỷ ban Tự do Tôn giáo Quốc tế của Mỹ gần đây đã mô tả Việt Nam là quốc gia có hồ sơ nhân quyền tồi tệ nhất ở Đông Nam Á.[7]
Thứ tư, Hoa Kỳ và Việt Namcùng chia sẻ một lịch sử quan hệ ngoại giao căng thẳng.[8]Lịch sử thăng trầm của họ không phải là tâm điểm trong mối quan hệ hiện nay giữa hai bên. Tuy vậy, vấn đề POW/MIA (tù binh chiến tranh / mất tích trong chiến đấu) vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của các chính phủ Mỹ với Việt Nam, trước mức độ nhạy cảm của vấn đề đối với dư luận trong nước. Tương tự, những người Việt Nambảo thủ vẫn tiếp tục ngờ vực rằng mục tiêu lâu dài của Mỹ là làm suy yếu độc quyền lãnh đạo của Đảng CSVN.[9]
Những yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông cũng như sự quyết đoán ngày một tăng của họ trong việc theo đuổi chúng đã dẫn đến sự tương đồng ngày càng tăng của lợi ích chiến lược Mỹ-Việt. Việt Nam có thể sẽ thắt chặt hơn nữa mối quan hệ an ninh với Hoa Kỳ, song điều này có thể diễn ra với nhịp độ tuần tự. Việc nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam khác nhau đề cập đến “sự tôn trọng lẫn nhau” và “chủ quyền” đã chứng tỏ rằng mặc dù Việt Nam sẽ hợp tác với Mỹ song họ sẽ không liên minh với Hoa Kỳ để chống lại Trung Quốc.
Trên thực tế, chuyến thăm của Chủ tịch Trương Tấn Sang tới Washington đã xác lập nên khuôn khổ hợp tác trong những vấn đề an ninh phi truyền thống như chống khủng bố, điều sẽ không phát tín hiệu nguy hiểm đến Bắc Kinh. Vấn đề quan trọng là cuộc gặp đã tránh những đặc điểm mang nhiều màu sắc quân phiệt của chủ đề an ninh quốc gia. Để kết thúc, mặc dù cuộc gặp gần đây giữa hai nhà lãnh đạo đã tạo ra một khuôn khổ đối thoại chính trị và ngoại giao cấp bộ trưởng,[10]song người ta vẫn còn phải chờ xem cả Washington lẫn Hà Nội sẽ xử lý những giới hạn của họ và thực hiện bước đi tiếp theo để xác lập một hiệp ước an ninh song phương toàn diện như thế nào.
(Tác giả là một thành viên chưa đầy đủ của Observer Research Foundation, Delhi.)





[1] Kêu gọi tăng cường hợp tác về những vấn đề an ninh phi truyền thống, bản tuyên bố chúng đã chứng kiến một thoả thuận giữa hai nhà lãnh đạo nhằm hợp tác trong nỗ lực chống khủng bố, an ninh hàng hải, nỗ lực bài trừ tội phạm xuyên quốc gia và nhằm xử lý tội phạm công nghệ cao và an ninh mạng.
[2] Mark E. Manyin, “US-Vietnam Relations in 2013: Current Issues and Implications for U.S. Policy,” 26 July 2013, Congressional Research Service, Pp. 2, xem tại đây: http://www.fas.org/sgp/crs/row/R40208.pdf
[3] Năm 2010, Việt Nam đã sử dụng vai trò Chủ tịch ASEAN để tích cực thúc giục Hoa Kỳ chủ động hơn trong những vấn đề an ninh hàng hải tác động đến Biển Đông. Trích dẫn trong: Carlyle Thayer, “Vietnam and the US: Convergence but not Congruence”, 13/2/2013; xem tại đây: http://www.isn.ethz.ch/Digital-Library/Articles/Special-Feature/Detail/?lng=en&id=159647&contextid774=159647&contextid775=159646&tabid=1453526659
[4] Natalie Liu, “Vietnamese President Seeks New Relationship With US”, Voice of America, 25 July 2013; xem tại đây: http://m.voanews.com/a/1709661.html
[5] Carlyle A Thayer, “Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt: Đằng sau cái tên là gì?” The U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership: What’s in a Name?”, 26/7/2013; xem tại đây: http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2013/08/03/quan-he-doi-tac-toan-dien-my-viet-dang-sau-mot-cai-ten-la-gi/
[6] Wayne M. Morrison, “China-U.S. Trade Issues”, Congressional research Service, Summary, xem tại đây: http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL33536.pdf
[7] ParameswaranPonnudurai, “Vietnamese President Highlights ‘Differences’ Over Human Rights”, Radio Free Asia, 25 July, 2013; xem tại đây: http://www.rfa.org/english/news/vietnam/rights-07252013161937.html
[8] Mười bảy năm trước, quan hệ song phương Mỹ-Việt đã lâm vào bế tắc trước những chủ đề bắt nguồn từ cuộc chiến tranh Việt Nam còn tồn đọng: giải trình đầy đủ về vấn đề POW/MIA, người Việt tị nạn, và yêu cầu của Việt Nam là Hoa Kỳ phải giải quyết những vết thương chiến tranh và chấm dứt ủng hộ những đối tượng chống cộng lưu vong đang tìm cách lật đổ chính quyền Hà Nội.
[9] Mark E. Manyin (2013), Summary, xem ở đây: http://www.fas.org/sgp/crs/row/R40208.pdf
[10] Carlyle A Thayer, “Quan hệ Đối tác Toàn diện Mỹ-Việt: Đằng sau cái tên là gì?” The U.S.-Vietnam Comprehensive Partnership: What’s in a Name?”, 26/7/2013; xem tại đây: http://vietnamhumanrightsdefenders.net/2013/08/03/quan-he-doi-tac-toan-dien-my-viet-dang-sau-mot-cai-ten-la-gi/

Friday, August 9, 2013

Hồ sơ nhân quyền của Việt Nam làm nguội lạnh quan hệ với Mỹ

Hoa Kỳ t chi d b lnh cm vn vũ khí cho đến khi nhn thy “tiến b v nhân quyn

JAMES HOOKWAY  | Wall Street Journal | 8.8.2013 |

Người dịch: Lê Thiên Hà




Nỗ lực của Việt Nam hòng bóp nghẹt Internet và trừng phạt những người bất đồng chính kiến trong nước đang gây trở ngại cho việc tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ, qua việc Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cảnh báo rằng môi trường nhân quyền ở đất nước cộng sản này cần cải thiện trước khi Washington đồng ý dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Quc gia Đông Nam Á này dường như đã đt được tiến b trong n lc hòng tht cht quan h vi Hoa Kỳ. Ch tch Vit Nam Trương Tn Sang đã thăm Tng thng Barack Obama ti Nhà Trng tháng qua gia lúc xut hin mt cơn bùng n đu tư mi vào Vit Nam ca các công ty M, trong đó có s kin khai trương ca hiu Starbucks đu tiên đây và vic McDonald’s loan báo rng h đang đưa thương v nhượng quyn kinh doanh vào Vit Nam. Trước cuc gp Nhà Trng, Vit Nam đ ngh Hoa Kỳ d b lnh cm bán vũ khí, điu mà Vit Nam xem là mt cách đ bình thường hoá hơn na mi quan h gia hai cu thù chiến tranh và thúc đy hp tác quân s.
Mc dù vy, Hoa Kỳ li chưa sn sàng d b lnh cm vn, bt chp mong mun ca chính quyn Obama là thúc đy quan h vi Vit Nam như mt đng minh hu ích mi trong chính sách đi ngoi ln hơn ca h là tái cân bng sang Châu Á.
“Phía Vit Nam đã bày t mi quan tâm ti vic d b hn chế kia, và chúng tôi s xem xét nghiêm túc đ ngh y”, Đi s Hoa Kỳ David Shear nói trong bài phát biu vi truyn thông Vit Nam hôm th Tư mà Đi s quán Hoa Kỳ công b hôm th Năm. “Song chúng tôi cũng tin tưởng là đ nhn được s ng h chính tr cho vic d b nhng hn chế kia… chúng tôi cn nhn thy mt s tiến b v nhân quyn t phía Vit Nam.
Vit Nam đã truy t và b tù hơn 40 người bt đng chính kiến trong năm nay, nhiu hơn con s ca c năm 2012. Trên thế gii, ch có Trung Quc là nước giam gi nhiu blogger hay nhà báo hơn, và chiến dch đàn áp ca Vit Namdường như vn còn tiếp din.
Đng thái mi nht ca Hà Ni, được loan báo tun trước, bao gm vic cm mi người sao chép và dán các bài tin tc và nhng thông tin khác trên blog – mt quy đnh có th hn chế s phát trin ca các cng thông tin phi chính thc. Internet đã tr thành mt ngun phê phán nhm vào các nhà lãnh đo cng sn Vit Nam trong bi cnh tăng trưởng kinh tế chm li. Nhng quy đnh mi s bt đu có hiu lc t ngày 1.9.
Theo truyn thông nhà nước, Th trưởng B Thông tin – Truyn thông Đ Quý Doãn phát biu rng nhng hn chế kia không nhm mc đích hn chế t do ngôn lun mà là nhm qun lý s phát trin nhanh chóng ca Internet Vit Nam. Các quan chc khác thì nói rng nhng quy đnh này cũng s bo v s hu trí tu.
Mt s nhng công ty Internet ln nht thế gii lo ngi nhng hn chế kia s kìm hãm s phát trin ca thương mi đin t trong nước. Liên minh Internet Châu Á (Asia Internet Coalition), mt t chc ngành đt tr s Hng Kông bao gm Google, Facebook, và nhng tên tui khác như Yahoo!, đã bày t trong mt bn tuyên b tun này là “v lâu dài, ngh đnh đó s bóp nght s sáng to và khiến các doanh nghip tránh xa Vit Nam”.
Các nhà lãnh đo tôn giáo cũng lo ngi trước bu không khí bt khoan dung đt nước này. Hôm th Tư va qua, lãnh đo ca năm tôn giáo chính ti Vit Nam đã ra mt thông cáo chung Hà Ni, phn bác li phát biu ca ông Trương Tn Sang rng chính ph Vit Nam tôn trng đy đ quyn con người. Các đi din ca Pht giáo, Công giáo và Tin lành, cùng vi các nhà lãnh đo Cao Đài và Hoà Ho s ti, đã kêu gi chính quyn phóng thích các tù nhân lương tâm và bãi b các quy đnh Internet mi.
Nhng người hiu biết tình hình cho hay Vit Namđã rút mt s điu khon kht khe trong các quy đnh mi v Internet, gi là Nghị định 72/2013/NĐ-CP. Hà Ni tng có lúc d đnh yêu cu nhng công ty như Google và Yahoo! phi đt máy ch Vit Nam, đt chúng trước kh năng tim tàng là d nhượng b trước áp lc t phía nhà chc trách khi h đòi cung cp d liu v người s dng. Nhà chc trách cũng bác đ xut cm nhng người s dng Facebook hay Twitter đăng các đường link web lên trang cá nhân ca mình.
Dù vy, cùng vi chiến dch kéo dài nhm vào các blogger và nhng người ch trích chính quyn, Ngh đnh 72 khiến cho Vit Nam gp khó khăn trong vic tht cht quan h vi Hoa Kỳ. Nhng hn chế này cũng có kh năng phc tp hoá quan h thương mi trong tương lai, k c n lc ca Vit Nam nhm gia nhp Hip đnh Thương mi Đi tác Xuyên Thái Bình Dương do M dn dt.
Mc dù Vit Nam đã ký kết các hip đnh đi tác chiến lược vi các thành viên khác ca Hi đng Bo an LHQ – bao gm Trung Quc, Nga và Anh – Ch tch Sang li không đt được mt tho thun đi tác chiến lược như thế trong cuc gp vi ông Obama, Carlyle Thayer – chuyên gia v tình hình Vit Nam và là giáo sư danh d ti Hc vin Quc phòng Australia (Australian Defence Force Academy) Canberra – lưu ý.
§             Nguyễn Anh Thư đã đóng góp vào bài viết này.

Thursday, August 8, 2013

Quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt: những vấn đề và ý nghĩa then chốt

Lê Hồng Hiệp, UNSW Canberra | 6.8.2013 |
Người dịch: Lê Anh Hùng




Ngày 25.7 vừa qua, Chủ tịch Trương Tấn Sang đã tới thăm Nhà Trắng lần đầu tiên; tại đây, hai nhà lãnh đạo đã tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác toàn diện Mỹ-Việt.
Bước đột phá ngoại giao này xem xét ba vấn đề chính: Sự kình địch ngày càng sâu sắc giữa Việt Nam với Trung Quốc trên Biển Đông, tình hình kinh tế ảm đảm của Việt Nam, và hồ sơ nhân quyền của nhà nước cộng sản này.
Đầu tiên, quan hệ đối tác toàn diện mới thiết lập với Hoa Kỳ có thể được xem là một bước tiến mới trong việc củng cố chiến lược rào giậu trước Trung Quốc của Việt Nam và đem lại cho họ nhiều tự tin hơn – và trên thực tế nhiều lựa chọn hơn – trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông.
Trong bản Tuyên Bố Chung, hai nhà lãnh đạo đã “tái khẳng định ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế” và “tái khẳng định ủng hộ nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển và tranh chấp lãnh thổ”. Đồng thời, hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) cũng như những nỗ lực để đi đến ký kết một bộ Quy tắc Ứng xử (COC).
Việt Nam có thể sẽ nhận được sự ủng hộ lớn hơn từ phía Hoa Kỳ thông qua các kênh ngoại giao nhằm chống lại áp lực ngày càng tăng của Trung Quốc trên Biển Đông. Từ quan điểm của Hoa Kỳ, mối quan hệ đối tác toàn diện – và sự ủng hộ ngoại giao mà mối quan hệ này đem lại cho Việt Nam – sẽ góp phần củng cố quan hệ của Hoa Kỳ với quốc gia cộng sản này trong bối cảnh chiến lược tái cân bằng sang Châu Á của Hoa Kỳ cần tới sự ủng hộ mạnh mẽ và kiên định của các quốc gia chủ chốt trong khu vực.
Thứ hai, hai nhà lãnh đạo cũng tái khẳng định cam kết hoàn tất các cuộc đàm phán Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) càng sớm càng tốt trong năm nay. Trong khi sự tham gia của Việt Nam vào các cuộc đàm phán TPP có thể được thúc đẩy phần nào bởi những toan tính chiến lược, đặc biệt là trong mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc, những lợi ích kinh tế mà Việt Nam sẽ giành được từ việc ký kết TPP lại là động lực lớn nhất khiến họ theo đuổi hiệp định thương mại tự do đa phương này.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng thấp, điều góp phần vào sự bất bình ngày càng tăng của công chúng trước sự cai trị của Đảng CS, các nhà lãnh đạo Việt Nam kỳ vọng việc ký kết TPP sẽ không chỉ kích thích nền kinh tế mà còn cải thiện vị thế chính trị của họ ở trong nước. Cần lưu ý là các nền kinh tế của TPP, hiện gồm cả thành viên mới Nhật Bản, hấp thụ tới 39-40% (45 tỷ USD) tổng giá trị hàng hoá xuất khẩu của Việt Namnăm 2012. Vì Hoa Kỳ vẫn là nước nhập khẩu lớn nhất các sản phẩm của Việt Nam nên việc có thêm nhiều cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ thông qua TPP đặc biệt quan trọng đối với quá trình phục hồi kinh tế của Việt Nam.
Sự can dự sâu sắc hơn với Việt Namvề mặt kinh tế thông qua cơ chế TPP cũng nhất quán với lợi ích kinh tế của Hoa Kỳ, bởi họ đang tìm kiếm thêm cơ hội tiếp cận các thị trường bên ngoài để hỗ trợ nền kinh tế. Bất chấp tình hình kinh tế đang lao đao hiện nay, Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục là một thị trường và đối tác kinh tế nhiều hứa hẹn đối với Hoa Kỳ. Đồng thời, khuyến khích Hà Nội hội nhập kinh tế sâu hơn cũng phù hợp với những toan tính chiến lược lớn hơn của Hoa Kỳ, kể cả việc tăng cường quan hệ Mỹ-Việt trong bối cảnh một Trung Quốc đang trỗi dậy và thúc đẩy Việt Nam tiến gần hơn đến tự do hoá nền kinh tế hay tiến trình dân chủ hoá tiềm tàng trong dài hạn.
Cuối cùng, hồ sơ nhân quyền của Việt Namvẫn tiếp tục là một trở ngại trong mối quan hệ đối tác mới tuyên bố. Cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đều ở vào tình thế tiến thoái lưỡng nan về vấn đề này. Các nhà lãnh đạo Đảng CSVN có thể coi thúc đẩy nhân quyền là mối đe doạ đối với an ninh của chế độ. Còn với Hoa Kỳ, sự tiến thoái lưỡng nan về mặt đạo đức là lựa chọn giữa việc đề cao nhân quyền như một nguyên tắc chủ đạo trong chính sách ngoại giao và việc hạ thấp tầm quan trọng của vấn đề khi hợp tác với Việt Nam vì lợi ích chiến lược. Chắc chắn vấn đề này sẽ tiếp tục là một thách thức đáng kể đối với việc phát triển mối quan hệ song phương Mỹ-Việt trong tương lai.
Mặc dù một số người có thể lập luận rằng mối quan hệ đối tác chiến lược chứ không phải là đối tác toàn diện mới là những gì mà cuối cùng hai nước cần nỗ lực hướng tới, tuyên bố quan hệ đối tác toàn diện vẫn là bước tiến lớn nhất trong quan hệ song phương kể từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ năm 1995. Quả thực, việc hai bên phân loại mối quan hệ này như thế nào không quan trọng bằng những gì mà họ làm trong thực tế để thúc đẩy lợi ích chung.
Trên phương diện này, việc mối quan hệ song phương Việt-Mỹ phát triển như thế nào sẽ phụ thuộc vào nhận thức của Đảng CSVN về những cơ hội và rủi ro mà một mối quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ đem đến cho an ninh chính trị của chế độ và mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc. Trong khi đó, việc Washington đánh giá thế nào về ý nghĩa của vấn đề nhân quyền đối nghịch với những lợi ích kinh tế và chiến lược cụ thể trong mối quan hệ của họ với Hà Nội cũng sẽ đóng vai trò quan trọng như vậy.
Nhận thức của hai bên về các nhân tố then chốt trên đây sẽ không ngừng thay đổi để phản ảnh những bước phát triển trong tương lai ở cả hai nước cũng như ở khu vực Châu Á. Vì thế, quan hệ đối tác toàn diện này cần được nhìn nhận như là sự khởi đầu của một chương mới đầy thú vị trong mối quan hệ song phương Mỹ-Việt hơn là đỉnh điểm của nó.
Lê Hồng Hiệp là nghiên cứu sinh tiến sỹ tại Đại học New South Wales (University of New South Wales), Học viện Quốc phòng Australia, Canberra. Ông còn là chủ biên sáng lập của Nghiencuuquocte.net, một dự án phi lợi nhuận tìm cách thúc đẩy việc nghiên cứu các vấn đề quốc tế ở Việt Nam bằng cách dịch các bài viết học thuật tiếng Anh trong lĩnh vực này sang tiếng Việt.

Cộng sản Việt Nam - Chuyên gia buôn người ngoại hạng

Người dịch: Lê Thiên Hà



Theo cuộc điều trần mới đây trước Uỷ ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, Việt Nam hiện là chủ nhân đáng tự hào của danh hiệu “Quốc gia vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất Đông Nam Á”. Các công ty xuất khẩu lao động của nhà nước là những “đại gia” cung cấp đàn ông, phụ nữ và trẻ em cho các thị trường chuyên về lao động cưỡng bức và buôn bán tình dục, trong khi các quan chức chính phủ thì được lại quả.
Những con số thống kê về tình trạng buôn người ở Việt Nam khác biệt nhau rất nhiều, trong khi thông tin chuẩn xác về quốc gia cộng sản này thì thật khó mà tìm. Bộ Công an Việt Nam đưa ra con số chính thức 2.935 người Việt Nam là nạn nhân của nạn buôn người từ năm 2004 đến 2009. Tuy nhiên, các tổ chức quốc tế lại báo cáo một con số lớn hơn thế rất nhiều: hơn 400.000 nạn nhân kể từ năm 1990. Thậm chí con số này cũng chỉ là tập hợp của những người được báo là nạn nhân mà bỏ qua hàng chục ngàn vụ lạm dụng khác chưa được nhắc tới, vốn diễn ra thầm lặng, đặc biệt là trong lực lượng lao động.
Xuất khẩu lao động không phải là điều gì đó mới mẻ với Việt Nam. Sau khi những người cộng sản tiếp quản Miền Namnăm 1975, hàng trăm ngàn lao động đã được gửi tới Liên Xô và các quốc gia khối Đông Âu như một hình thức thanh toán món nợ chiến tranh. Nhiều người lâm vào cảnh thất nghiệp, nợ nần và bị bỏ rơi. Việt Nam nhanh chóng tiến từ chỗ cung cấp lao động cưỡng bức sang buôn bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ tình dục.
Nô lệ tình dục với sự bảo trợ của nhà nước
Việt Namlà một nhà cung cấp hàng đầu cho hoạt động bóc lột tình dục thương mại, cũng như lao động cưỡng bức – một số người khởi đầu là lao động cuối cùng cũng lâm vào cảnh nô lệ tình dục. Các cuộc hôn nhân gian dối hay bơm thổi là một phương pháp mà qua đó phụ nữ Việt Nambị bóc lột. Sự mê hoặc của cuộc hôn phối với một người đàn ông ở một đất nước khá giả, cộng với khoản thanh toán hứa hẹn lên tới 5.000USD (gấp mười lần mức lương bình quân hàng năm ở Việt Nam), thường là một sự cám dỗ quá lớn đối với những người phụ nữ nông thôn cùng gia đình nghèo đói của họ. Phụ nữ và trẻ em được chuyển tới Campuchia, Trung Quốc, Lào, Thailand, Malaysia, Đài Loan, Ma Cao, Trung Đông và Châu Âu. Đến lượt, trẻ em Campuchia lại được buôn bán sang các trung tâm đô thị ở Việt Nam. Việt Nam ngày càng trở thành một điểm đến của du lịch tình dục trẻ em, với những kẻ vi phạm đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Anh, Australia, Châu Âu và Mỹ. Phụ nữ cũng được chuyên chở bằng tàu sang các quốc gia khác để sắm vai đẻ mướn. Một số bị ép buộc sinh con cho những gia đình không thể sinh, trong khi số khác lại bị bán con cho người nước ngoài làm con nuôi, chủ yếu ở các quốc gia phương Tây.
Nước Nga: một dẫn chứng thích đáng
Mới đây, cô Danh Hui đã đứng ra làm chứng về một băng nhóm chuyên buôn bán tình dục và cưỡng đoạt đã dụ dỗ những phụ nữ trẻ của Việt Nam sang Nga với lời hứa hẹn về công việc thu nhập cao (theo chuẩn mực Việt Nam) là làm phục vụ. Thay vì thế, họ bị bán vào các nhà thổ ở Moscow. Hoạt động này được vận hành bởi các công ty môi giới lao động do nhà nước bảo trợ, những tổ chức vẫn lại quả cho các quan chức Việt Nam. Hộ chiếu của những phụ nữ trẻ này bị tịch thu; họ chỉ nhận được một khoản thù lao ít ỏi, không được chăm sóc y tế và không có cách nào để quay về nhà. Một số phụ nữ bị giam ở Nga hơn bốn năm, và bị đánh đập dã man nếu họ tìm cách trốn khỏi nhà thổ. Mặc dù bị giam giữ trái với nguyện vọng song họ vẫn phải trả tiền thuê nhà và bị tính tiền thức ăn và quần áo.
Em gái của Danh, Bé Hương, là một trong những nô lệ tình dục. Sau vài tháng, gia đình đói khổ của cô nhận được một cuộc gọi yêu cầu trả tiền chi phí y tế. Họ cóp nhặt được 300USD và gửi cho cô. Vài tuần sau cô gọi lại và nói rằng công ty môi giới việc làm ở Việt Nam đã đồng ý cho cô quay về nhà song cô cần 2.000USD để mua vé máy bay. Khoản tiền nhanh chóng được nâng lên 4.000USD rồi 6.000USD; rõ ràng đây là một vụ cưỡng đoạt.
Tháng Hai năm nay, 13 tháng sau khi bị bắt làm nô lệ, Bé Hương trốn thoát khỏi nhà thổ cùng với ba nạn nhân khác. Cô vẫn kịp gọi điện cho ông Nguyễn Đông Triều, Tham tán Công sứ của ĐSQ Việt Nam tại Moscow và cầu xin sự giúp đỡ. Ông ta nói với cô mại dâm là bất hợp pháp ở Nga và bảo, “Ai đưa cô đến đây thì hãy yêu cầu họ đưa cô về nhà.” Hai ngày sau,  Bé Hương cùng ba nạn nhân khác bị bảo vệ nhà thổ bắt trở lại, cả bốn cô bị đánh đập dã man. Về sau Bé Hương được biết bà chủ nhà thổ ở Moscow kia là bạn tốt của ngài Tham tán Công sứ, người đã phản bội các cô gái.
Khi cô Danh Hui biết được tình cảnh của em gái, cô liên hệ với hai tổ chức phi chính phủ ở Mỹ, Boat People SOS (Cứu trợ Thuyền nhân) và Coalition to Abolish Modern-Day Slavery in Asia (Liên minh nhằm Xoá bỏ Nô lệ Hiện đại tại Châu Á), tổ chức đã giúp cô liên lạc với Hạ nghị sỹ Al Green và Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Nhờ nỗ lực của họ và với sự hỗ trợ từ giới truyền thông, Bé Hương được đưa về Việt Nam, nhưng không phải là không mất chi phí. Đầu tiên, cô bị bà chủ nhà thổ – Thuý An – bắt gọi điện cho bố mẹ và đề nghị họ rút đơn khiếu nại công ty môi giới việc làm mà họ gửi cho công an Việt Nam. Cô Danh Hui còn phải gửi một lá thư xin lỗi cho bà chủ chứa vì đã vu khống bà ta buôn bán nô lệ tình dục. Cuối cùng, cô cũng bị ép buộc phải viết một lá thư gửi các quan chức Việt Nam ở Moscow để cám ơn họ vì đã giúp đỡ Bé Hương hồi hương. Chỉ khi đó Bé Hương mới được rời khỏi nhà thổ.
Cuối cùng, Bé Hương được phép đến Đại sứ quán Việt Nam; ở đây cô được một nhân viên tên là Kiên cho biết việc cô được thả là có điều kiện. Cô phải viết một bức thư khẳng định những gì cô từng nói với người thân về bà Thuý An là không chính xác, và một bức thư khác cám ơn các quan chức ĐSQ cùng bà Thuý An vì đã giúp cô hồi hương.
Dĩ nhiên, ĐSQ Việt Nam chẳng làm gì cả, bà Thuý An cũng vậy, vì chỉ nhờ áp lực ngoại giao và truyền thông mà Bé Hương mới được về nhà. Bằng cách gây áp lực liên tục, sáu nạn nhân khác cuối cùng cũng được phóng thích và trở về Việt Nam. Tám người khác vẫn bị bà Thuý An bắt làm nô lệ, với sự trợ giúp của ĐSQ Việt Nam tại Moscow.
Buôn bán lao động
Việt Nam khởi sự hoạt động buôn bán lao động bằng cách học hỏi sách lược của viên thống chế cộng sản Tito, người coi việc tiến hành xuất khẩu lực lượng lao động dư thừa như một cái van an toàn để giảm bớt sự chống đối trong giới trẻ Nam Tư. Tito là một nhà độc tài cực đoan và tàn nhẫn (mặc dù khá nổi tiếng ở phương Tây), người làm “tổng thống suốt đời” cho đến khi qua đời năm 1980.
Cộng sản Việt Nam hiện xuất khẩu một phần lớn lực lượng lao động hòng dập tắt tình trạng bất ổn đang âm ỉ trong nước cũng như để tăng thêm thu nhập; năm 2007, người Việt làm việc ở nước ngoài gửi về nước khoảng 2 tỷ USD. Việt Nam có một lực lượng lao động trên 51,4 triệu công nhân, và 70% dân số ở độ tuổi dưới 30. Bất chấp nạn buôn người, 12% – 10 triệu – trong số lao động còn lại của Việt Nam vẫn thất nghiệp, theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu gửi 500.000 công nhân ra nước ngoài trong năm 2005, và con số này vẫn tăng lên qua từng năm kể từ đó. Năm 2008, Việt Nam đạt được thoả thuận với Qatar trong việc nâng số lượng công nhân gửi đến Trung Đông từ 10.000 người lên gấp mười lần con số ấy vào cuối năm 2010.
Nghệ thuật buôn bán
Nhiều công ty xuất khẩu lao động ở Việt Nam nằm trong những tập đoàn buôn bán phức tạp và các băng nhóm bảo kê; các quan chức chính phủ và các ngân hàng thường xuyên dính líu vào. Những người nộp đơn bị đánh lừa thông qua hợp đồng, “hợp đồng nội”, vốn mô tả loại công việc, điều kiện làm việc tốt, thu nhập cao; tuy nhiên, họ có thể phải trả đến 10.000USD chỉ để được nộp đơn. Những người nộp đơn thường được khuyến khích vay tiền, chẳng hạn như từ Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT, để trả phí, và sử dụng tài sản của cha mẹ làm thế chấp. Nếu khoản vay vẫn chưa đủ, bố mẹ họ phải cầm cố hoặc bán các tài sản còn lại của mình.
Sau khi nộp phí đăng ký phi bồi hoàn, các công nhân thường được trao hợp đồng thực sự để ký chỉ một vài ngày trước khi đi. Hợp đồng này thường quy định những điều khoản khác với bản hợp đồng gốc, sử dụng những thuật ngữ pháp lý mà họ không thể hiểu. Một khi đặt chân đến điểm đến cuối cùng (vốn có thể khác với đất nước mà họ đăng ký ban đầu), hộ chiếu và giấy tờ của công nhân bị tịch thu và họ bị ép phải ký một hợp đồng khác, “hợp đồng ngoại”, bằng một thứ ngoại ngữ mà họ không hề hiểu chút gì. Thế rồi họ nhận ra mình phải làm việc nhiều giờ hơn, điều kiện làm việc không đáp ứng tiêu chuẩn, mức lương thì ít hơn nhiều so với hứa hẹn, sự chăm sóc y tế hầu như không có. Nhiều khi người công nhân không được thanh toán đầy đủ và bị giữ trong tình trạng lệ thuộc vì nợ, trong khi bị ép buộc hàng tháng phải thanh toán một khoản bắt buộc cho công ty xuất khẩu lao động. Kết quả là người công nhân không thể trả hết khoản vay, không có tiền để về nhà, còn gia đình họ thì mất đất đai hoặc các tài sản khác.
Các ĐSQ Việt Nam ở nước ngoài hầu như không giúp đỡ gì cho những người bị bóc lột này. Trên thực tế, chính phủ Việt Nam đã ban hành luật chống buôn bán người và thỉnh thoảng cũng truy tố một vài vụ, song đó chỉ là màn trình diễn. Đó là chiêu bài hòng đánh lừa Liên Hợp Quốc, Hoa Kỳ và các quốc gia tài trợ cả tin khác để họ tin rằng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đang giải quyết vấn đề. Trong khi đó, hoạt động buôn bán lao động và tình dục vẫn tiếp diễn với sự nhấm nháy của các quan chức nhận hối lộ. Tiện thể, quý vị có biết rằng ở Việt Nam đưa tin về tham nhũng là trái pháp luật?
Và cuộc chơi vẫn cứ tiếp diễn…